26/11/2025
NGŨ CHI ĐẠI ĐẠO
Bài giảng

Nhân dịp Lễ Khánh thành Trùng tu Chùa Minh Thiện Đạo (Thanh An Tự)
Tại tỉnh Bình Dương
Ngày 01, 02, 03 tháng 11 năm 1966
Định Pháp Minh Lý Đạo NGUYỄN MINH THIỆN
Thưa ông Chánh Hội trưởng Hội Minh Thiện Đạo
và chư quí vị Ban Quản trị.
Thưa chư quí ông, chư quí bà,
Tôi là người Minh Lý đạo, thay mặt chùa Tam Tông Miếu, vinh hạnh đặng ông Chánh Hội trưởng mời đến dự lễ khánh thành trùng tu Thánh Miếu, hôm nay để giải bày một vài ý kiến đạo đức, ngõ chung vui cùng nhau trong buổi lễ long trọng nầy. Ngài muốn tôi nói về Ngũ Chi Đại Đạo. Xin thú thiệt với chư quí vị thính giả rằng tôi không thạo lắm về đề tài nầy, nhưng cũng gắng gượng giải bày để đáp lại thạnh tình của ông Chánh Hội Trưởng.
Trước khi luận về Ngũ Chi Đại Đạo, tôi xin giải thích đại lược nghĩa hai chữ Đại Đạo.
I. ĐẠI ĐẠO LÀ NGHĨA LÀM SAO?
Chữ Đại Đạo xuất xứ ở trong cuốn Đạo Đức Kinh của Ông Lão Tử, mà khi giáng các đàn Tiên dạy Đạo, Ngài thường xưng là Thái Thượng Đạo Quân, hay Thái Thượng Lão Quân. Hai chữ Đại Đạo ấy ghi trong chương 25, như sau nầy:
“Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh…… Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo, cưỡng vi chi danh viết Đại”, nghĩa là: Có một vật hồn nhiên (đâu đâu cũng một màu như hột gà chưa lộn, không chỗ nào thấy hình trạng khác nhau), sanh ra trước trời, trước đất… Ta không biết tên nó là gì, đặt tên nó là Đạo, cưỡng gọi nó là Đại.
Thế thì Đại Đạo là một vật không hình tướng, mà to lớn trải khắp các nơi, có trước trời đất. Đó là cái nguyên nhân thứ nhứt sanh ra trời đất võ trụ và người vật.
Nó phát biểu ra ngoài gọi là Đức. Cái Đức nầy không phải lấy nghĩa thông thường, như đức tánh, đức hạnh, nhân nghĩa (les vertus). Đạo Đức Kinh gọi chữ Đức nầy là thượng đức (la Vertu), còn chữ đức kia là hạ đức (les vertus), vì nó đã chia ra nhiều mối mành, mất vẻ hồn nhiên. Nói một cách khác: Chữ Đức nầy, lớn như chữ Đạo, gồm đủ hết các đức, không có đức nào lọt ra ngoài.
Ông Pierre Salet là người phiên dịch bộ Đạo Đức Kinh, hiểu rõ ý của Ngài Lão Tử, nên trong bài tựa cuốn sách của ông phiên dịch, có nói rằng: Cái công bình và bất công, cái tốt và cái xấu là những hiện tượng của kẻ phàm phu, không có giá trị chi về phương diện tuyệt đối. Mà, ngoài hiện tượng ấy, có cái Đạo bất sanh bất diệt (nghĩa là hằng cửu, vĩnh viễn), là nơi các Hiền Thánh có thể tìm được Chơn Lý và hạnh phúc. Cái đức chơn thiệt của nó gọi là Đức, trái với các hiện tượng nói trên, là một thứ tinh thần phát xuất, một sức thị hiện của Đạo trong mọi chúng sanh, tỉ như cái cầu để nối dính họ liền lại với Đấng Thiêng Liêng (Đạo).
Đây là lời của tôi phiên dịch ra tiếng Việt Nam câu chữ Pháp của ông Salet như sau nầy: “Le juste et l’ injuste le beau et le laid sont des apparences humaines qui n’ont aucune valeur au point de vue absolu, mais, par delà ces apparences, se trouve l’immuable Tao dans lequel le sage peut trouver toute vérité et toute béatitude… La vraie vertu, le Te au contraire, est une sorte d’émmanation, de manifestation du Tao dans les créatures, et comme le pont qui les rattache à la Divinité ”.
Ông Bác sĩ Wiéger, một nhà tu Công Giáo, cũng là người phiên dịch cuốn Đạo Đức Kinh nói trên, hiểu nghĩa hai chữ Đạo, Đức như thế nầy. Trong bài Tự ngôn, ông nói:
Một nguyên lý đầu tiên và duy nhứt, ban sơ nó tập trung và đại tịnh, tự mình phát xuất, sanh hóa. Ban sơ cái nguyên lý ấy tĩnh thì gọi là Đạo, hoạt động thì gọi là Đức.
(Le Docteur Wiéger a dit: “Un principe premier, unique, d’abord concentré et inactif, se mit à émaner à produire. Recueilli, on l’appelle Tao; agissant on l’appelle Te”).
Ông Glasenapp trong cuốn Năm Đạo Lớn Của Thế Giới có nói: Chữ Brahma (của Ấn Độ Giáo) cũng như chữ Đạo, cả hai đều phủ nhận đời sống hiện tượng và như thế, thì nghĩa nó như hư không. Trái lại, đó là nguyên nhân thứ nhứt của muôn vật tồn tại trên đời và như thế, thì không phải là hư không, mà là một cái thể siêu việt (một bực Chí Tôn)
(Câu văn Pháp: Le Brahma, de même que le Dao, est la négation de l’existence nouménale et, par conséquent, il est désigné comme Néant. Inversement il est la Cause première de toute existence et que, par conséquent, il n’est pas un Néant, mais un être transcendant).
Theo Ấn Độ Giáo thì một cái thể siêu việt, một bực Chí Tôn nầy là Brahmâ, cũng là Brahma, như nói trên, mà có dấu mũ trên chữ â, xin chư thính giả để ý. Người Pháp dịch hai chữ Brahma và Brahmâ là: La Loi et l’Etre.
Theo Nho giáo, thì gọi là Thiên, là Thượng Đế,
Theo Phật giáo, thì gọi là Pháp và Pháp thân Phật,
Theo Đạo giáo, thì như nói trên, gọi là Đạo và Đức, tuy là hai mà một, một mà là hai.
Thế thì, các tông giáo nói trên, tuy ra đời dưới hình thức khác nhau về lễ bái, về học thuyết, mà kỳ thiệt chỉ có một gốc, một lý mà thôi. Nhưng trước kia, từ một gốc, một lý, mà phát xuất, rồi theo luật tự nhiên của Trời Đất, chi chi cũng phải trở về căn bổn của nó.
Tỉ như hột giống, khi gieo xuống đất nó xoi đất mà mọc lên, có thân cây, có nhánh, có lá, có bông, có trái, rốt cuộc cũng huờn lại hột giống in như khi trước, để sau nầy có thể trồng nó lại nữa. Rồi nó mọc lên cây, lên nhánh, …, cũng như đã nói trước, châu nhi phục thỉ, mà tuần huờn mãi mãi.
Cuốn Châu Dịch Huyền Nghĩa của Đạo Minh Lý có nói:
Kiền: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, bốn đức,
Rộng sâu dầy, tột bực không hai.
Bốn mùa, tám tiết đổi thay,
Xây vần máy tạo, tháng ngày không thôi.
Nguyên, đức lớn, dựng ngôi tánh mạng,
Hanh, đức thông, rỡ rạng tồn sanh,
Lợi, nên thuần thục, hoàn thành,
Trinh, bền kết thúc, giống lành y nhiên.
Câu chót: Trinh bền kết thúc, giống lành y nhiên, là có ý nói: Đến kết cuộc rồi, hột giống kia cũng huờn lại giống lành y nhiên như trước khi.
Kinh Châu Dịch lại gọi đó là biến dịch, rồi cũng huờn về bất dịch. Phật giáo và Đạo giáo gọi đó là luân hồi lục đạo, chuyển sanh kiếp nầy kiếp nọ, không biết chừng nào ngừng nghỉ. Người làm đạo, người tu hành, phải làm sao để tránh sự biến dịch nầy, làm xáo trộn đời sống con người, để đi đến bất dịch là thường trụ mới là chứng được quả Tiên Phật, hưởng cảnh an lạc đời đời.
II. ĐẠI ĐẠO CÓ HAI ĐƯỜNG THUẬN và NGHỊCH, KHÁC NHAU
Trên đã nói: Đạo có hai phần: một phần là biến dịch, nghĩa là: thay đổi luôn luôn, làm cho đời con người xáo trộn mãi mãi; còn một phần là bất dịch, nghĩa là: thường trụ, không dời dạc, không phiêu lưu vô hạn định, thì đời con người mới hưởng được sự yên tịnh, vui vẻ, hạnh phúc.
Con đường trước là con đường thuận với Tạo Hóa, phải lên lên xuống xuống, cực nhọc đau khổ. Con đường sau là con đường nghịch với Tạo Hóa, mà đặng an nhàn, tự tại, hưởng được thanh phước Cực Lạc Niết Bàn.
Cuốn Châu Dịch Huyền Nghĩa của đạo Minh Lý có nói:
Nền Dịch học lần lần suy yếu,
Mối Chơn truyền tối thiểu biết thôi.
Phần đông, vật chất kéo lôi,
Lợi danh, thế sự, bỏ trôi tâm truyền.
Sau đạo Dịch, một nguyên hai phái,
Đến Đông Châu, thời đại loạn ly.
Chủ trương, Lão Tử vô vi,
Đem ngay chỗ động, hai nghi trở về.
(Chỗ động tức là Cơ vi manh động trong lòng ta. Hai nghi tức là âm dương. Trở về nghĩa là đem ngược nó lại gốc xưa, tức là Thái cực, là Đại Đạo).
Đời là khổ, ai lại không biết? Tuy là cũng có lúc vui, cái vui theo nhục dục, theo phàm tình hèn thấp, mà cái vui sướng đó không bền bỉ, rồi nối đuôi theo sau nó, không biết bao nhiêu sự thống khổ.
Hỏi: Sao lại cho vui sướng là khổ?
Đáp: Vui sướng ở thế gian là vô thường, không đủ toại nguyện, do các nhân duyên hiệp mà sanh, rồi cũng do các nhân duyên lìa mà mất, không có lúc nào trụ một chỗ, vì cớ đó mà khổ.
Như người cõi trời Dục giới thọ lạc, như ngây như say, không còn biết chi khác, đến lúc sắp chết mới là giác ngộ, thì đã trễ muộn rồi. Khi mạng chung, chúng sanh theo nghiệp nhân duyên phải còn thọ báo. Các chúng sanh đó có gì gọi là sung sướng?
Ba đường ác đạo là cảnh quê xưa. Còn cõi trời, cõi người như quán xá để khách trọ nghỉ tạm một lúc. Vì nhân duyên đó, Phật chỉ nói Khổ đế, mà không nói Lạc đế. Cho nên cả thảy chúng sanh, chẳng một ai không chịu khổ.
Lại chúng sanh rất đáng thương xót, vì không biết cái thiệt khổ. Ở trong chỗ điên đảo, bèn đâm ra tư tưởng sung sướng. Đời này, đời sau, chịu nhiều sự khổ não, mà lòng không biết chán. Tuy có lúc tạm lìa khỏi khổ, mà rồi cũng trở lại cầu sự sung sướng vô thường kia, gây ra các việc khổ khác nữa. (Rút trong cuốn Thiền Pháp Yếu Giải của Phật giáo, do Minh Thiện phiên dịch và ấn tống).
Phật nói rằng: Các thứ khổ đó do vô minh mà sanh ra. Vô minh, nghĩa là: trí không đặng sáng suốt, nên tạo ra nhiều điều ác nghiệp, phải bị luật nhân quả buộc con người vào bánh xe luân hồi sanh tử. Nhưng Phật cũng có nói: Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh sáng suốt như Phật vậy chẳng khác.
Thế thì danh từ Vô minh và Phật tánh cũng đối hẳn với nhau, như ngày với đêm. Hễ có vô minh thì không thấy Phật tánh. Còn thấy Phật tánh thì Vô minh phải tiêu tan. Người tu hành dẹp được Vô minh, mà thể hiện Phật tánh, thì gọi là Minh Tâm Kiến Tánh, chứng quả Niết Bàn. Ông Thần Hội thiền sư đặng nhận là thất tổ trong phái Thiền tông, trong bài Hiển Tống Ký, có nói:
Niết Bàn vô sanh, năng sanh Bác Nhã,
Bác Nhã vô kiến năng kiến Niết Bàn.
Nghĩa là:
Cảnh Niết Bàn là cảnh vô sanh (bất sanh bất diệt), mà sanh ra trí Bác Nhã.
Còn trí Bác Nhã không có 62 tà kiến (không thấy các việc tà), mà thấy được Niết bàn.
Đủ thấy người tu hành muốn chứng được quả Tiên Phật, thì phải có trí Bác Nhã, mà người Trung Hoa dịch là: Đại trí huệ. Chữ Trí Bác Nhã đồng một nghĩa với Phật tánh, nói trên. Trí Bác Nhã là công cụ của Niết Bàn, còn Niết Bàn là bổn thể của Trí Bác Nhã.
III. CÔNG PHU TU HÀNH PHẢI THEO LUẬT TIẾN HÓA
Muốn đặng trí Bác Nhã, phải lắm công tu học. Không phải đầu hôm sớm mai, mà thấy kết quả chóng mau được.
Đại Đạo tuy có một, mà con người hành đạo có nhiều trình độ, nên phải chia ra nhiều lớp tu học. Cũng như đạo Phật có Tam thừa, Ngũ giáo.
Tôi xin mượn một cái thí dụ trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa như sau đây, để chỉ rõ cái lý tiến hóa phải có nhiều lớp học.
Thí như có một người tuổi còn thơ bé, bỏ cha mà đi qua xứ khác, ở đó rất lâu (hai ba chục năm). Người đó khi lớn lên rồi, vì cảnh nghèo nàn, nên giong ruổi bốn phương, để làm mướn nuôi thân. Như vậy trải qua nhiều xứ, một ngày kia bỗng hướng về quê hương.
Ban đầu người cha đi tìm kiếm nó, mà vì không biết nó ở đâu, nên phải dừng bước lại ở trong một cái thành nọ. Nhờ buôn bán gặp vận may, ông nầy giàu có lớn, của tiền vô lượng. Các kho tàng chứa đầy những vàng, bạc, châu, báu, có nhiều tôi tớ, nhân viên phụ tá, voi ngựa, xe cộ, trâu dê vô số, huê lợi lan rộng đến các nước ngoài, khách buôn bán lai vãng tấp nập.
Thì gã cùng tử dạo khắp xóm làng, trải qua nhiều tỉnh, lần hồi đi tới chỗ thành của cha nó ở.
Bấy giờ gã cùng tử làm thuê làm mướn để độ nhựt, may đâu gặp nhà người cha. Nó đứng ngoài cửa ngõ trông thấy cha mình đằng xa, ngồi trên giường sư tử, dưới có ghế báu đỡ chơn. Các vị Bà-la-môn, Sát-đế-lị, cư sĩ, đều cung kính vây quanh. Thân ông đặng trang nghiêm bằng chuỗi ngọc, chơn châu, giá trị muôn ngàn, …
Gã cùng tử thấy cha có thế lực lớn lao dường ấy liền đem lòng lo sợ, hối hận, vì mình đã lỡ chơn đến đây. Nó thầm nghĩ rằng: Ông nầy không phải vua, thì cũng là ông chi chi lớn lắm, không phải là chỗ ta đến làm thuê, làm mướn, mà kiếm tiền được. Chi bằng ta qua xóm nhà nghèo bên kia, mới là phải chỗ ta làm ăn, để đặng sanh sống. Nếu ta đứng lâu ở đây, họ có thể bức bách, cưỡng ép ta làm việc nầy việc nọ chăng. Nghĩ như thế rồi, gã liền mau chơn bước trái ra ngoài.
Khi ấy, ông trưởng giả ngồi nơi tòa sư tử, thấy gã cùng tử, nhìn biết là con mình, lòng rất vui mừng, ông bèn sai người hầu bên mình, mau chạy theo kêu nó trở lại…
Lúc ấy, nhiều người hầu chạy riết theo kịp, nắm được gã cùng tử, thì nó kinh ngạc, hãi hùng, lớn tiếng kêu oan: “Tôi chẳng hề xúc phạm đến ai, sao mấy người lại bắt tôi?”
Rồi nó ngất người, ngã xuống đất chết giấc. Người cha đằng xa thấy vậy, liền lớn tiếng bảo các người hầu rằng: “Thôi, đừng cưỡng ép nó, dẫn nó đến ta làm gì. Hãy lấy nước lạnh mà rửa mặt cho nó tỉnh dậy, đừng nói chi với nó nữa hết”.
Tại sao ? Bởi người cha biết chí ý con mình còn hạ liệt và xét biết tại địa vị cao sang của mình mà con nó sợ hãi. Xét biết tánh tình con mình như thế, nên ông dùng phương tiện độ nó, chớ không dĩ hơi ra, không cho ai biết nó là con mình. Ông kêu người hầu, biểu nói với nó rằng: “Nay ta để cho nó thong thả, tự ý nó muốn đi đâu thì đi”.
Gã cùng tử hoan hỉ, như đặng vật báu xưa nay chưa từng có, liền từ mặt đất chỗi dậy, chạy đến xóm nghèo để mưu cầu cơm áo.
Lúc ấy, ông trưởng giả muốn dụ dỗ người con, nên dùng phương tiện nầy: Ông kêu hai người nhà có dáng gầy ốm, không có oai đức, mà nói nhỏ rằng: Hai đứa bây qua xóm bên kia dịu dàng nói với cùng tử rằng: “Tại nhà ta đây có chỗ làm mà thiếu người, lại trả tiền công cao bằng hai nơi khác”. Nếu nó chịu làm, thì dẫn nó về cắt việc cho nó làm. Nếu nó hỏi làm gì, thì nói cho nó biết: “Chủ thuê anh hốt phân, quét rác, hai đứa tôi đây cũng làm chung với anh”.
Tức thì hai người nhà đi kiếm gã cùng tử, thuật lại mọi việc như đã kể trên.
Lúc ấy, tên cùng tử đến nhận tiền, rồi lo hốt phân, quét rác. Có lúc, Ông trưởng giả cởi chuỗi ngọc, áo quần, tế nhuyễn, các món trang sức, rồi mặc áo vải bô rách rưới, bôi mình đất cát, đi coi các công nhân làm việc. Đó là ông phương tiện để gần gũi với con mình.
Đến sau, ông lại bảo con rằng: Gã nam tử kia, cứ siêng năng làm việc, thì ta sẽ trả tiền thêm cho ngươi đủ sống. Ngươi chớ nên e ngại. Hãy coi ta đây cũng như cha ngươi vậy. Đương khi làm việc, ngươi chớ khi dối, trễ nải, giận dữ, oán trách. Ta mong sao ngươi bỏ hết các tánh xấu đó, chẳng giống như mấy đứa lao động khác. Từ đây về sau, ta coi ngươi như con đẻ của ta.
Ông trưởng giả liền đặt tên tự (tên riêng) cho gã cùng tử, gọi ngay nó là con (như con ruột). Gã cùng tử gặp sự may mắn đó, bắt đầu có lòng tin cậy hơn, vào ra không còn ngần ngại nữa. Tuy vậy, nó cũng vẫn ở chỗ cũ (chòi lá riêng)
Bấy giờ trưởng giả có bịnh, tự biết mình khó sống, mới bảo cùng tử rằng: “Ta nay rất có nhiều vàng bạc, trân báu, đầy dẫy kho tàng, có nhiều món nên giữ để sau mà dùng, tất cả con phải chăm nom coi sóc. Lòng ta định như thế, con phải thừa vâng ý cha”.
Tại sao? Vì hiện nay cha cùng con chẳng khác (có một), con phải hết lòng gìn giữ, đừng để mất mát, thì cùng tử vâng lời dặn, coi sóc trong ngoài.
Một ít lâu nữa, cha biết ý con đã lần lần mở trí sáng suốt. Khi gần lâm chung, ông trường giả kêu con mình đến và hội tất cả thân tộc, họ hàng mà tuyên bố: “Các ông nên biết, người nầy là con tôi, tự tôi sanh nó ra. Trên mấy chục năm về trước, cũng ở trong thành nầy, nó bỏ tôi mà đi phiêu lưu tân khổ. Ngày nay, tất cả sự nghiệp của tôi đều là giao hết về tay nó, một mình nó làm chủ mà thôi”.
Lúc ấy, cùng tử nghe nói, rất là hoan hỉ, cho là đặng một việc xưa nay chưa từng có, nên nghĩ rằng: “Ta nào để ý mong cầu, mà nay cái kho báu kia tự nhiên đến cho ta”.
Trong thí dụ nầy, Ông phú trưởng giả tức là Đức Như Lai, còn các đệ tử đều như con của Phật, vì Như Lai thường nói: “Chúng ngươi như là con cái của Ta”.
Đây nói: Ông phú trưởng giả dùng phương tiện như nói trên, để gần gũi với gã cùng tử mà khuyến dạy nó. Nhưng ban đầu, nó cũng chưa tin cậy mấy, sau nhờ lâu ngày chầy tháng nó mới tỉnh ngộ, mà bỏ phận sự hốt phân, quét rác, ở sau nhà, góc hẻm, mới lên nhà trên làm quản gia, rốt rồi làm chủ nhà.
Nên biết: Đạo thì có một, mà phương tiện rất nhiều. Trên Trời Phật cũng tùy phương tiện để độ chúng sanh, không nên chấp phương tiện, mà bỏ Đại Đạo ra ngoài.
IV. NGŨ CHI ĐẠI ĐẠO
Ngũ chi Đại Đạo, mà tôi muốn nói đây, là năm phần Đại Đạo như sau nầy:
Tuy hình thức có sai biệt, mà tinh thần bên trong không khác, cũng đều chủ về sự giải thoát cho con người, từ chỗ thô thiển đến nơi rốt ráo hoàn toàn. Đạo là một Lý không hai, dầu Đông hay Tây, tuy chia ra có nhiều mối manh, chớ cũng cùng chung một Chơn lý duy nhứt.
Mỗi phần tùy theo trình độ nhơn loại mà giáo hóa, hướng dẫn, như một cái thang năm nấc, một trường học năm lớp. Nhưng mỗi phần đều lấy chữ khổ mà làm đề mục:
Nhơn thì tùng khổ
Thần thì thắng khổ
Thánh thì thọ khổ
Tiên thì giải khổ
Phật thì thoát khổ
Đã là người thì phải chịu cái công lệ: sanh, già, đau, chết, chịu khổ vì hoàn cảnh, vì bản thân. Nếu không biết thuận tùng khổ, để làm tròn bổn phận con người, lo tròn trách nhiệm đạo người, đối với gia đình, xã hội, trong thân tộc ruột rà, ngoài đồng bào quốc thổ, vui với cái thiên chức mà Trời đã trao cho, để cùng nhau chia sớt nổi vui, nổi buồn, nổi vinh, nổi nhục.
Không vì khó khăn mà thối chí, chối từ, không vì nghèo hèn mà tủi nhục. Ai cũng thuận theo luân lý, đạo nghĩa để hoàn tất trách nhiệm làm con, làm cha, làm vợ, làm chồng, làm chủ, làm tớ, làm anh, làm em, làm người giữa nhau trong xã hội.
Vượt lên trên nhơn đạo, thì có Thần đạo. Thần đạo là đạo của võ tướng, của quân sĩ, phải chiến thắng với tất cả sự áp bức, xâm lăng từ ngoại lai, giữ yên bờ cõi cho đồng bào chủng tộc, bảo hộ cho họ đặng sống trong cảnh an lành, hoặc dẹp trừ các sự rắc rối, xáo trộn, trộm cướp, cho dân chúng an cư lạc nghiệp, ổn thỏa giữa nhau.
Tiến lên Thánh đạo, đảm nhiệm lấy sứ mạng cứu chuộc mọi khổ đau cho loài người, uống cạn chén rượu khổ đời. Tới đây là con người đã quên mình hoàn toàn, chỉ biết có đồng loại. Nên Nho giáo có câu: “Sát nhân dĩ thành nhân”, nghĩa là mình chịu chết để trọn đức nhân, hoặc là mình chịu chết để giúp cho người nên việc. Cũng vì lẽ đó, mà Thánh Jésus chịu căng mình trên thập tự giá, làm của chuộc tội lỗi cho thế gian, lòng bác ái rộng thương tràn ngập đất trời.
Trên nữa là Tiên gia, tuy tu nghịch đời, mà thuận với Lý thiên nhiên, điều hòa thần khí, để phá những phiền phược buộc ràng, đem ngay con người đến chỗ thanh tịnh vô vi, sống trong cái sống hồn nhiên, vui trong cái vui cởi mở, không bận thân nơi tục lụy, mê mết theo đám bảy tình.
Tự mình có cái đạo trường sanh, mình với Trời, là một nguyên lý, một nguyên thần, Trời đặng vững bền, thì người cũng là Trời, lẽ đâu không tồn tại? Người và Trời cũng một Đạo, đồng nhứt ở lý, khí, nên có câu:
Nhứt nhơn chi tâm, tức thiên địa chi tâm,
Nhứt vật lý chi lý, tức vạn vật chi lý.
Thế thì thiên địa vạn vật đồng nhứt thể, mà trời vững đất bền, sao người vật lại bị thống khổ, tiêu ma? Vì người vật cử động cách xa với Thiên lý, bị vật chất giả tạo ám ảnh, mà gây nên điên đảo, lẫn lộn trong vòng luân hồi sanh tử, không biết chừng nào ra khỏi được. Biết cái lý ấy rồi, đem mình trở về cùng Tạo Hóa, thì cũng sẽ đặng bền lâu như Tạo Hóa.
Chẳng những thế, những bực tu đắc Đạo rồi, hễ định thần vào đâu, có thể khiến người vật ở đó không bịnh hoạn, lúa thóc trúng mùa ngay (coi sách Trang Tử). Lời nầy đối với câu sách của Thầy Mạnh Tử : “quá hóa tồn thần” thì chẳng phải là quá đáng. Quá hóa nghĩa là bực Hiền Thánh đi tới đâu thì ở đó đặng cải hóa về lành, hễ định tâm vào đâu thì ở đó thấy thần diệu. Nhưng đó là việc vô vi, nên người đời khó mà biết được, nên họ lầm tưởng tu Tiên là tu ích kỷ.
Vượt qua một từng công phu nữa, Phật giáo tìm phương giải thoát tất cả mọi hành vi hệ lụy, ngoài sự câu thúc của đời hay là của đất trời, nghĩa là: đã đi đến Chơn không vô tướng, vượt ra khỏi ngoài vòng khí chất, để cầu lấy đạo từ bi tự tại, thì có chi trói buộc được nữa. Tuy chư Phật, Bồ Tát, đặng tinh thần tự do, tự tại, mà vẫn không quên chúng sanh còn đương lặn hụp sông mê biển khổ, nên lúc nào cũng ứng hóa độ đời đặng minh tâm kiến tánh, ngõ hầu đặng hưởng cảnh thanh nhàn, cực lạc như các Ngài.
Cho nên có câu: “Tâm, Phật, chúng sanh, thị tam vô sai sai biệt”, nghĩa là: Tâm của Phật và của chúng sanh là một thể, chúng sanh tu thì thành Phật, đồng hàng với Phật, thì Phật nào có khác chi với chúng sanh.
Người theo đạo thường tưởng rằng hễ tu hành thì cần phải giải các khổ ở đời. Nhưng ít ai biết các khổ đời chẳng phải nên tránh hết. Cũng có khi ta phải nhận cái khổ kia làm thầy của chúng ta (La douleur, c’est notre maitre).
Trong cuốn Thiền Lâm Bửu Huấn, Ông Phật giám có nói rằng: “Vi đạo bất ưu, tắc tháo tâm bất viễn. Xử thân thường dật, tắc dụng chí bất thâm…Cái sự nan tắc chí nhuệ, khắc khổ tắc lự thâm, toại năng chuyển họa vi phước, chuyển vật vi Đạo”, nghĩa là: Làm đạo không có sự buồn lo, thì tâm tập luyện không đến chỗ xa xăm. Thân thường ở trong cảnh dật lạc, thì chí có dụng cũng không sao sâu sắc … Vì có gian nan thì ý chí mới sắc bén, có kham khổ thì tâm tư mới chính chắn. Có thế mới là chuyển họa làm phước, chuyển vật ra Đạo (Đạo là chủ động, còn vật là bị động)
V. KẾT LUẬN
Thế thì Ngũ Chi Đại Đạo cũng chung một đề mục, mà dẫn bước đưa đường từ nhiều giai đoạn, hầu đến chỗ cứu cánh, viên mãn hoàn toàn, tự làm chủ mình mà cũng làm chủ được cả Kiền Khôn võ trụ. Đó là vai trò tiến hóa, mà mỗi người đều có bổn phận vun đắp, trưởng dưỡng, từ nhỏ đến lớn, từ hẹp ra rộng, thì đủ thấy cái nền đạo học của chúng ta tuy có cấp bực khác nhau, mà không ra ngoài một Lý, là Đại Đạo. Vậy chúng ta phải tự xét trình độ, hoàn cảnh của mình mà cầu lớp học, không nên lạp đẳng, mà rốt cuộc khó thành Đại Đạo.
Thầy Trang Tử nói: Người nằm ở chỗ ẩm thấp, thì sanh ra đau lưng, chết (bại) nửa thân mình, còn con lươn nằm đó thì rất sung sướng, có sao đâu? Người ở trên cây thì run rẩy, sợ té; còn loài khỉ vượn lên cao thì thích thú, có sao đâu? Cũng thế, người học Đạo phải tìm thuyết thích nghi mà học, không nên ngó cao quá, hoặc thấp quá, mà rốt cuộc không thành tựu gì cả, tuy hữu lao mà vô công.
Chúng ta cũng chẳng nên tự thị học Đạo cao, mà chê bai kẻ còn kém cỏi. Nên giúp công, giúp tuệ cho nhau là quí hơn. Con người biết cái lý đó, thì đời sẽ không còn tông giáo nầy chê bai tông giáo khác nữa. Đó là khởi điểm để đi tới cảnh hòa bình, chẳng những trong nước nhà, mà có thể đem gieo rắc sự an lạc trong khắp cả hoàn cầu thế giới.
Hạnh phúc của chúng ta không phải ở trong sự tranh giành lý thuyết, mà ở chỗ kết tình thương yêu cùng nhau, gắng gổ thiệt hành đạo đức, để tạo ra một cảnh thanh bình an lạc chung cho nhau. Ngoài tình thương yêu, không có một việc thành tựu nào có giá trị cao cả. Có thế mới là đạt đến mục đích tối cao của loài người, thế mới là biến cõi thế gian ra Niết Bàn, Cực Lạc. Mong thay!
Trước khi dứt lời, nhân dịp lễ khánh thành long trọng hôm nay, tôi xin thay cho bổn đạo Minh Lý mà cầu chúc cho:
Bổn đạo Minh Thiện đặng công đức, an lành.
Chùa Minh Thiện đặng miên viễn, lưu truyền bách thế.
Đạo Minh Thiện đặng mở to rộng, hóa độ khắp nơi.
Rất lòng thành tín
Top