26/11/2025
LUẬN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠO GIÁO
LUẬN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠO GIÁO
Bài nói chuyện tại Thanh An Tự
Định Pháp Tổng Lý
Nguyễn Minh Thiện
I. ĐỊNH NGHĨA CHỮ ĐẠO CỦA ĐẠO GIÁO
Trước hết xin định nghĩa chữ ĐẠO. Chữ Đạo xuất xứ ở trong cuốn Đạo Đức Kinh của Đức Lão Tử. Vua Trung Hoa kỉnh trọng Ngài, phong tặng cho Ngài hiệu là THÁI THƯỢNG ĐẠO QUÂN, hay là THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN, chớ không phải tự Ngài chiếm xưng cái danh hiệu đó, như nhiều người lầm tưởng và có ý chế diễu.
Chương thứ nhứt của cuốn Đạo Đức Kinh có nói: “Đạo khả đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh”, nghĩa là: Cái Đạo mà nói ra được là không phải cái Đạo hằng còn, không phải cái Đạo vĩnh viễn. Cái Danh (tên) mà gọi lên được là không phải cái Danh hằng còn, không phải cái Danh vĩnh viễn.
Tiếp theo đó, cũng trong chương thứ nhứt, lại có câu: “Vô danh thiên địa chi thỉ, hữu danh vạn vật chi mẫu”, nghĩa là: Lúc Đạo không có tên là mối khởi thỉ của trời đất, lúc Đạo có tên là mẹ sanh của muôn vật.
Lại Đạo mà thiếu Đức, cũng không thành Chơn Đạo. Nói một cách khác, khi Đạo chưa sanh hóa thì gọi là Đạo; mà chừng sanh hóa rồi thì gọi là Đức, để phân biệt hai thời kỳ có khác nhau. Kỳ thiệt, Đạo và Đức đồng một bản thể không phải là hai vật riêng biệt. Triết học đời nay gọi Đạo là thể (Noumène), Đức là tướng dụng (phénomène). Phật giáo gọi là Pháp, là Phật. Nho gọi là Thiên, là Thượng Đế, Ấn Độ giáo gọi Brahma, Brahman (Loi), là Brahmâ (Etre hay là premier Etre), …
Ông Bác sĩ Wieger, một nhà tu Công giáo phiên dịch cuốn Đạo Đức Kinh có nói: “Một nguyên lý đầu tiên và duy nhứt, ban sơ nó tập trung và đại tịnh, rồi tự mình phát xuất, sanh hóa. Cái nguyên lý ấy bất động thì gọi là Đạo, chừng cái nguyên lý ấy hoạt động thì gọi là Đức (Recueilli, on ľ appelle Đạo; Agissant, on ľ appelle Đức).
Nói chung tất cả, Đạo là “Nhứt vật mà lưỡng diện”, nghĩa là: Một vật, một thể mà có hai mặt, khi ẩn khi hiện, nên khó độ lường.
Trên đó là nghĩa tuyệt đối của chữ Đạo, viết bằng chữ Đ hoa, Đ lớn. Xin đừng lấy nghĩa tầm thường theo thế tục, như nói đạo là lẽ phải theo luân lý, là một tôn giáo, là phương pháp (trong sanh tài hữu đại đạo), là con đường đi (như đạo lộ) đều viết bằng chữ đ thường, đ nhỏ. Người học Đạo, vì hiểu theo nghĩa thông thường, nên phải sai đàng lạc ngõ, chớ nào phải Đạo sai lầm. Sai lầm là tại người, đã không rõ thì nên tìm học, sao lại chê Đạo, rất đáng tiếc!
Sau đây, xin giải thích ít danh từ, thuộc về giáo lý của Đạo giáo mà nhiều người hiểu lầm nốt, là bởi không hiểu chữ Đạo cho rõ ràng.
II. GIÁO LÝ LƯỢC GIẢI
Giáo lý rất rộng, không thể nào nói đủ trong một bài giảng được. Đây xin giải thích một ít danh từ hệ trọng của Đạo giáo mà thôi, để cho chư đạo hữu chú ý mà có một cái quan niệm đại khái về Đạo giáo.
1. VÔ VI
Có thể gọi là danh từ quan trọng nhứt, gồm bao tất cả nghĩa lý khác trong cuốn Đạo Đức Kinh của Đức Lão Tử.
Vô nghĩa là Không. Vi nghĩa là làm. Vô vi nghĩa là không làm, cũng như nói vô thi công, vô tạo tác.
Tuy nghĩa đen của hai chữ vô vi là không làm ra, mà đừng lầm tưởng Đạo là ăn không ngồi rồi, không làm chi cả. Kinh nói: “Vô vi nhi bất vô vi”, nghĩa là: Không làm mà làm tất cả, không có chi chẳng làm. Đây có nghĩa là: Không làm theo thế tục thường tình, làm hữu vi. Vậy hữu vi là chữ đối kháng với chữ vô vi. Ta nên tìm biết nghĩa nó trước, thì nghĩa chữ vô vi mới được rõ ràng.
2. HỮU VI
Hữu nghĩa là có, vi nghĩa là làm ra. Hữu vi nghĩa là có làm ra. Cái chi có sức người vật làm ra (trước không sau có) thì đều gọi là hữu vi.
Các pháp Hữu vi, do sức người làm ra, đều là vô thường, nghĩa là: sanh diệt không chừng, nay còn mai mất, tuy thấy có đó mà rồi một thời gian sẽ hóa ra không. Các pháp Hữu vi do nhân duyên mà sanh ra, chớ không có thiệt thể, nghĩa là: chẳng có một cái thể chơn thiệt bền bỉ, đời đời chẳng hư hoại. Đã nói do nhân duyên mà sanh ra, thì khi có nhân duyên hiệp lại là thành hình; đến lúc nhân duyên lìa nhau là hình tan vỡ. Đó là cái lý đương nhiên xảy ra trước mắt chúng ta hằng ngày, tưởng ai cũng biết rõ rồi, chẳng cần phải giải thích dông dài thêm nữa.
Kinh Kim Cang có nói trong một bài kệ:
Nhứt thiết Hữu vi pháp,
Như mộng huyễn, bào ảnh.
Như lộ, diệc như điển,
Ưng tác như thị quán
Nghĩa là:
Tất cả các pháp Hữu vi,
Như mộng mị, như bọt bóng,
Như sương móc, cũng như điển,
Phải xét cho được như thế.
Thế thì Phật giáo, cũng như Đạo giáo, đều không chuộng việc Hữu vi, nên hai giáo đều cũng nguyện cầu Vô vi, nghĩa là không làm Hữu vi theo thế sự. Làm Hữu vi theo thế sự thì có gì bền bỉ mà phải tu, trừ ra những việc Hữu vi dọn đường để đi đến pháp Vô vi. Như có bài thơ của Đạo giáo:
Thỉ ư hữu tác vô nhơn kiến,
Cập chí vô vi chúng thử tri.
Chỉ kiến vô vi vi áo diệu,
Thùy tri hữu tác thị căn ki.
Nghĩa là:
Trước tu hữu tác người không thấy,
Chừng tới vô vi mới rõ hay.
Chỉ thấy vô vi là áo diệu,
Nào dè hữu tác thiệt căn ki.
Pháp Vô vi mới thiệt là chơn thiệt, là bền bỉ.
Tại cớ sao?
Đức Lão Tử nói: “Phản giả Đạo chi động”, nghĩa là: Quầy trở lại là cái lẽ Đạo động.
Thuyết Vô vi do đó mà ra. Hữu vi là đi ra, là đi tới mãi. Còn Vô vi là trở về, là thối ngược lại. Nếu con người cứ đeo đuổi theo lục trần bên ngoài, mà không biết quầy đầu trở lại với Đạo ở nội tâm, thì tự nhiên phải thọ hại, phải chịu đau đớn, khổ sở.
Cho nên “thanh tịnh vô vi” là tông chỉ của Đạo giáo. Người tu theo Đạo giáo luôn luôn phải giữ tâm lặng lẽ, trong sạch, trống không thì nó mới đặng sáng suốt, mà hiểu thấu Chơn lý. Cái TÂM này Tiên gọi là Minh giác, Phật gọi là Bác Nhã, Nho gọi là Lương tri. Tu Vô vi là tu cái Tâm nầy, cũng gọi là Đạo tâm, khác với cái phàm tâm của người đời, cũng gọi là Nhơn tâm.
Kinh nói: “Nhơn tâm duy nguy, Đạo tâm duy vi”, nghĩa là: Nhơn tâm rất nguy hại, Đạo tâm rất tế vi, để chỉ cho người ta biết chọn con đường mình phải đi. Câu ấy phải là đích xác lắm chăng? Ta há nỡ xem thường mà bỏ qua sao?
3. NHU NHƯỢC
Trong chương 36 Đức LãoTử có nói: “Nhu thắng cương, nhược thắng cường”, nghĩa là: Cái mềm hơn được cái cứng, cái yếu hơn được cái mạnh.
Ngài lại nói trong chương 40: “Nhược giả Đạo chi dụng”, nghĩa là: Nhu nhược là cái công dụng của Đạo.
Nhu nhược nghĩa là yếu mềm, chiều theo người ta, chớ không dùng sức mà cưỡng lại, tức là cái thuật “Bất tranh nhi thiện thắng”, nghĩa là: không tranh giành mà khéo thắng lợi.
Con người thường sống thích đua đòi theo kẻ khác, lòng đầy vọng niệm chỉ bắt chước người ta, chớ không sống theo bản tánh của mình, bày trò giả tạo, theo ước lệ của xã hội bên ngoài. Nếu biết sống theo bản tánh của mình, là cái sống cao thượng, chơn thiệt, không trái với lẽ tự nhiên, thì là hạnh phúc biết bao! Cho nên Kinh nói: “Kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng”, nghĩa là: Cứng mạnh ở bực thấp, nhu nhược ở bực cao, là vậy đó.
Tôi còn nhớ trong chuyện Tam Quốc, ông Khổng Minh thường dùng nhu nhược, còn ông Trương Phi dùng kiên cường. Mà trên đời nầy, tôi thấy đâu cũng là bày ra cảnh kiên cường đó mà thôi.
Ông Trương Phi chê ông Khổng Minh rằng: nhu nhược khó mà thắng được Châu Công Uẩn, thì ông Khổng Minh mới thổ lộ ra cho biết rằng: Ông có thể giết Châu Công Uẩn bằng một cây bút lông. Khi ấy ông Trương Phi tỏ ra dáng nóng nảy, bèn lấy cây bút lông mà xọt nhiều lần vào trong mồm, day hỏi ông Khổng Minh: Coi Trương Phi có chết chưa? Nhưng sau rồi, ông Khổng Minh tự thơ cho Châu Công Uẩn, đương lúc ông thất trận mà khen dồi ông lên, làm cho ông phải tức giận hộc máu mà chết. Đó có phải là nhu nhược thắng cang cường chăng?
Cái bí quyết nhu nhược này rất hay, nhưng phải người thượng trí vi minh mới biết dùng nó đặng kết quả tốt. Vi minh nghĩa là ánh sáng mầu vi, mà về một mặt khác như nói trên, người ta cũng gọi là Đạo tâm duy vi. Vi đây là nhỏ nhẹm, sâu kín, người thường nhơn khó thấy, khó biết. Cho nên theo lời Đức Lão Tử, kẻ tiểu nhơn nghe nói Đạo, vì nó không hiểu thấu, mới bật cười mà chế diễu, thì cũng không có gì lấy làm lạ!
4. BẤT NGÔN CHI GIÁO
Trong chương hai, Đức Lão Tử có nói: “Xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo”, nghĩa là: Xử sự theo phép vô vi, dạy người bằng không lời nói.
Chương 43 lại nói: “Bất ngôn chi giáo, vô vi chi ích, thiên hạ hi cập chi”, nghĩa là: Cách dạy không lời có lợi ích cho phép vô vi, trong thiên hạ mấy ai theo kịp chỗ cao siêu đó.
Dẫu có người tu chứng Đạo rồi có nói ra đi nữa, thì kẻ thường nhơn nghe qua cũng không sao hiểu được. Muốn hiểu cái Đạo, thì người tu phải chánh tâm diệt dục, để lòng dạ trống không, dẹp hết hình tướng, tu học lần lần mới có thể hiểu. Nhưng tu học nói đây chẳng phải học trục vật, các hình tướng, từng bộ phận, như bốn anh đui rờ voi. Cái học nầy là học siêu việt, toàn thể, lên trên tâm vật, cho nên nói: “học bất học”, chớ không phải học theo thế thường.
Trong bài Xưng Tụng Thượng Đế của đạo Tam Kỳ, ta có những câu:
Có phải vừa là xưng tụng công đức của Thượng Đế, mà cũng vừa là kể ra các lý mầu nhiệm của Đạo trong đó chăng? Đủ thấy rõ Đạo và Thượng Đế chẳng phải riêng biệt, khác nhau. Đạo tức là Thượng Đế, Thượng Đế tức là Đạo. Danh từ kêu gọi tuy có khác nhau, mà bổn thể vẫn có một.
Bài Xưng Tụng Thượng Đế của đạo Minh Lý cũng có nói:
Xưa nay chiêm ngưỡng Đạo linh,
Là trong nhựt nguyệt thần tinh ngôi đầu.
(tức là Thượng Đế)
III. ĐẠO GIÁO CÓ MỘT, MÀ NAY CHIA RA NHIỀU PHÁI
Đức Lão Tử ra đời 500 năm trước Kỷ nguyên Thiên Chúa, tới nay là đã đặng gần 2.500 năm.
Ban sơ theo lịch sử, khi Ngài đi về phía Tây có truyền cho Quan Doãn Hĩ bộ Đạo Đức Kinh, sau lần lần người ta còn tìm gặp nhiều bộ Kinh khác quan trọng, như: Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Kinh, Thanh Tịnh Kinh, Cảm Ứng Kinh, ... Lại cũng như các tôn giáo lớn khác, các vị Tổ Sư đời sau như Liệt Tử, Trang Tử, ..., còn ra nhiều Kinh sách khác nữa.
Như các tôn giáo lớn khác, Đạo giáo cũng có hai phần, là Bí pháp và Phổ thông. Vì Bí pháp không có truyền rộng, nên người đời ít rõ biết trọn lý thuyết của Ngài. Vì cớ đó, mà sự hiểu lầm lý thuyết rất nhiều, thiệt là một điều rất đáng tiếc! Hiện nay, Đạo giáo hay là Lão giáo đã phân ra bốn phái như sau nầy:
1. Huyền lý,
2. Kim đơn,
3. Phù lục,
4. Sấm vĩ hay là Nhâm độn
Tiên thiên Bổn tánh thị Kim đơn,
Bát quái lư trung luyyện tác hoàn.
Cử thế mê hồn tầm ngoại dược,
Thân xan, vọng tưởng thượng vân đoan.
Nghĩa là:
Bổn tánh Tiên thiên ấy gọi đơn,
Trong lò bát quái luyện thành huờn.
Người mê tìm thuốc ngoài thân thể,
Vừa uống, tưởng đâu mây đỡ chơn.
Nếu tôi hiểu không lầm, đây mới là chánh pháp tu luyện của Đạo giáo. Người Pháp dịch Kim đơn là “Alchimie divine”, luyện ở nội tâm, đối với “Alchimie terrestre” là phái luyện kim bên ngoài.
Đạo giáo bao trùm tất cả, có chi không phải là Đạo. Nhưng vì mỗi người chuyên một môn thành ra có nhiều chi phái. Vì cớ đó, mà cũng như các tông giáo khác, không sao tránh khỏi tà chánh lẫn lộn, quái đản mê tín. Đó là không phải tại lý thuyết, mà tại người hạ đẳng ít hiểu giáo lý mới có sanh ra lầm lạc. Hoặc là có kẻ lợi dụng làm tiền, cầu danh cầu lợi. Vậy người trí giả không nên vơ đũa cả nắm mà chê bai tất cả, làm cho Đạo giáo phải chịu tiếng oan uổng.
IV. KẾT LUẬN
Trên đó là tôi nói đại lược về Đạo giáo. Phần nhiều lời dạy của Đức Lão Tử rất sâu kín, dường như trái với đời sống thế sự. Người thường khó hiểu được, nên hay hiểu lầm ý tứ cao siêu của Ngài. Họ cho Đạo của Đức Lão Tử là Đạo tiêu cực, như chữ Vô vi, Nhu nhược, Bất ngôn chi giáo.
Xin chư thính giả nghĩ có phải như thế không? Chắc là không. Bề ngoài tuy thấy tiêu cực như không làm gì, mà bên trong trái lại là tích cực, bởi dùng trí sáng suốt mà hành động, nên ngược lại kết quả rất tốt đẹp. Còn xét đến việc đời, người ta băn khoăn lo lắng, bôn Nam tẩu Bắc, tuy thấy tích cực, mà bởi không thấy xa hiểu rộng, nên kết quả dở dang, hư hỏng, thành ra tiêu cực.
Vậy xin khuyên các đạo hữu tìm hiểu lời dạy sâu kín của Thánh Hiền xưa dạy trong Kinh sách Đạo giáo, chớ vội thấy bề ngoài mà bỏ bên trong, lãng quên tinh thần, đeo đuổi vật chất, thì chắc chắn sẽ đạt tới mục đích chẳng sai, là gần gũi Tiên Phật, sẽ đặng muôn vàn hạnh phúc, đời sống vui tươi, vô cùng an lạc.
Trước khi chấm dứt bài luận hôm nay, tôi xin cầu nguyện cho các đạo hữu lẹ bước trên đường đạo đức và chúc cho thế giới hòa bình, muôn dân lạc nghiệp.
Rất lòng thành tín
Top