LUẬN VỀ TIẾN HÓA

26/11/2025

LUẬN VỀ TIẾN HÓA

TAM TÔNG MIẾU

BÀI GIẢNG

Ngày rằm tháng Giêng năm Canh Tuất (1970)

                                                                                                           NGUYỄN MINH THIỆN

                     Thưa chư quí ông quí bà,

                     Thưa các đạo hữu nam nữ.

Hôm nay là ngày rằm tháng Giêng, vía Thiên Quan Tứ Phước.

Mỗi năm có ba Nguơn lớn, mà đây là một, gọi là vía Thượng nguơn. Còn rằm tháng bảy gọi là Trung nguơn, Địa Quan Xá Tội; ngày rằm tháng mười là Hạ nguơn, Thủy Quan Giải Ách. Đạo Giáo gọi ba vị này: Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan là Tam Quan đằng lục, nghĩa là ba vị Quan xem xét và biên chép phước tội của người thế gian.

Nhân ngày lễ lớn Thiên Quan Tứ Phước, theo lệ thường, tôi xin đem một bài giảng đạo đức để nhắc nhở các đạo hữu về con đường tu học.

Đề tài bài hôm nay là: LUẬN VỀ TIẾN HÓA.

I. LỜI NÓI ĐẦU

Đây là một vấn đề rộng lớn, phổ cập khắp Đông Tây, đâu đâu cũng đều có bàn luận đến, nhưng cách lập luận chẳng giống nhau. Thần Tiên giáng cơ cũng có dạy sơ qua nhiều lần, nhưng khó mà giải rõ trong một khuôn khổ một bài giáng bút.

Nay chẳng nệ tài sơ học thiển, tôi xin đem vấn đề này ra bàn thử với chư đạo hữu và, nếu có thể được, tạo ra cho đạo Minh Lý một cái chưn đứng, một cái lập trường, ngõ hầu tiến tới một giáo lý hoàn mãn về sau này.

II. CHÁNH ĐỀ

 1. Định nghĩa hai chữ Tiến hóa

Chữ Tiến nghĩa là tiến lên, ban sơ dở sau giỏi, ban đầu dữ sau lành, ban đầu ở nấc thang thấp sau lần lần lên nấc thang cao.

Chữ Hóa nghĩa là Dịch Hóa, biến đổi, chớ không phải ở một mức cố định mãi, dầu muốn dầu không, ai ai cũng đều phải tiến lên, nhưng hoặc tiến mau hay tiến chậm, do công phu của mình tu học nhiều ít đó thôi.

Trái với chữ Tiến hóa là Thối hóa, nghĩa là nếu chẳng đi lên, thì phải đi xuống. Tạo Hóa có lòng thương xót tất cả chúng sanh, như mẹ thương con, lẽ nào sanh chúng ra rồi, để cho chúng đi ngược với luật Tiến Hóa. Nhưng không tránh sao khỏi có người ngoan cố, nghịch ngỡm, chẳng chịu vâng lời dạy dỗ của Bề Trên. Thế cho nên họ phải chịu đau đớn khổ sở. Đó là những roi vọt, cũng như cha mẹ thương con, thì phải trừng phạt, để cho chúng phản tỉnh, giác ngộ, mà hồi đầu hướng thiện vậy.

Cho nên trong cuốn Minh Lý Chơn Giải có nói: “Lấy đau khổ làm thầy”, nghĩa là: Lãnh lấy đau khổ cho biết lỗi mà hồi đầu. Lại nói: “Có vỡ trán mới hay mình đụng đầu, có xỉa chơn mới biết mình sụp hố sâu”, chúng ta há dám không cẩn thận sao?

Người phương Tây cũng có nói: “La douleur, c’est notre maitre”, nghĩa là: Đau khổ là ông thầy của chúng ta.

Kinh Phật nói: “Người xưa trải qua gian nan, thường gặp hiểm trở, rồi sau mới hưởng một cuộc an nhàn dài lâu. Là bởi việc có khó thì trí mới mở mang, có khắc khổ thì lo liệu mới sâu sắc, rồi mới có chuyển họa làm phước, chuyển vật thành Đạo (Coi Thiền Lâm Bửu Huấn).

Lại cuốn Minh Lý Chơn Giải cũng có nói thêm rằng: “Cuộc chiến họa càng bùng to, thì lửa cạnh tranh mới liếm sạch lòng tham hận. Nước còn dâng cao, mới tẩy hết bụi nhơ, mặc dầu phải tiêu hao những người không lo lánh nạn

Cho nên họa đời càng nhặt thúc, thì sự kết liễu cũng không xa. Có đau khổ, có rên la, mới có lòng ăn năn cầu cứu. Đã đành các trận đồ bày bố, nhứt là trận mê hồn (làm cho thần hồn người mê mẩn), kẻ dại náo nức bôn chôn, mà người trí, kẻ khôn cũng nên mau chơn lánh khỏi”.

Thế thì, đau khổ là một điều kiện trọng yếu của sự tiến hóa, tỉ như một mũi nhọn đâm vào thân thể ta để giục thúc ta tiến lên vậy, nhứt là cho những người tự mình còn nhu nhược, lưng chừng.

2. Căn cứ vào đâu mà biết có sự Tiến hóa?

Tiến hóa là một luật chung cho vạn vật, cũng như luật Nhân quả nhà Phật, chớ không phải riêng dành cho loài người mà thôi. Nhưng trong khuôn khổ một bài giảng này, tôi không thể nào luận rộng được, nên đây chỉ xin nói về nhơn loại, để cho mọi người biết con đường tiến triển mà lo tu thân. Đại khái, vấn đề này có ba cấp bực, xin kể ra sau đây:

          a) Cảm giác           

          b) Tri giác             

          c) Trực giác          

(Mỗi cấp bực đều có chữ giác, mà chữ giác này không giống với chữ giác kia, xin quí vị lưu ý).

a) Cảm giác. Trước hết, xin giải nghĩa chữ giác:

Giác là hiểu biết, hiểu những điều chưa biết đến gọi là giác. Nhưng giác có nhiều trình độ khác nhau. Như cảm giác là hiểu biết bằng năm giác quan, là con mắt, lỗ tai, mũi, miệng, tay chơn, nhờ tiếp cảm với màu, tiếng, mùi, vị, xúc của các vật thiên nhiên ở ngoài thân thể ta mà đặng hiểu biết. Nếu không có các vật này, thì sự giác đó ở ngoại lai cũng không có.

Cảm giác (sensation) là cái hiểu biết thô sơ, bề ngoài mà thôi, lại mỗi giác quan hiểu biết một cách khác nhau. Như con mắt thì chỉ thấy được, chớ không nghe, không ngửi, không nếm, không xúc chạm được. Lỗ tai thì chỉ nghe được mà không thấy, không ngửi, không nếm, không xúc chạm được. Các giác quan khác thì cũng thế. Mỗi giác quan đều có một phận sự riêng, không ai giúp dùm cho ai được. Sự hiểu biết đó rất eo hẹp. Nếu thiên hạ chỉ biết như thế, thì sự hiểu biết đó, có phải là nghèo nàn lắm chăng?

Trong cuốn Đạo Học Chỉ Nam, Ngài Trần Hưng Đạo Đại Vương có tả rộng cảnh thế như vầy (Coi mục Sanh và Tâm Hậu thiên).

Sanh là đời sống của con người. Ta cũng cần biết qua đời là chi, để nhận lại những gì, đâu là chơn, đâu là vọng.

Đã vào đời, thì phải biết đời như thế nào, để làm chi? Thân phận của con người liệu sao mà phải. Đời là một cảnh tượng trong vũ trụ, gồm có trạng huống sanh tồn là quan hệ và tâm thức (về tâm thức, sẽ nói rõ sau này). Thân phận của đời là thế. Đời là một sân khấu diễn màn vô định, thay đổi biến dời, rộng lớn mênh mang.

Hằng ngày chúng ta sống ở đâu, ở trên đất này, được thấy những gì? Có phải núi bể rừng sâu, chim muông, súc vật, vườn ruộng, tiền bạc, nhà cửa và người ta không”.

Đây chỉ nói về trạng huống của sanh tồn, chỉ hiểu biết các vật thiên nhiên bên ngoài, rồi nói: “Có sự vật đây”. Đó là kinh nghiệm về hiện hữu của sự vật.

Đặc tánh của cảm giác sự vật, là: Ta chắc chắn về sự hiện hữu của sự vật, đồng thời ta chưa đạt hiểu gì về tánh chất của sự vật hết. Sự hiểu biết đó còn bời rời, như trên đã nói: mắt chỉ thấy, tai chỉ nghe, …

Sách Luận nhà Phật nói: Năm giác quan chỉ là năm anh lính rờ sẹt mà thôi. Phải có một sở trung ương, như sở bót cái gom góp các tài liệu của năm anh lính kia, sắp đặt cho có thống hệ, mới có thể có một sự phán đoán hẳn hòi. Bằng không, sự hiểu biết đó còn bời rời có chi gọi là chánh đáng?

Mà cái sở trung ương ấy là ai?

Tức là giai đoạn kế đó, là Tri giác (perception), mà cũng gọi là ý thức, tâm thức, trí năng, ngộ tánh (intelligence, entendement), …

b) Tri giác

Tri giác thuộc về ý, là thức thứ sáu, nên nhà Phật cũng gọi nó là đệ lục ý thức.

Ý thức làm chủ năm thức đầu là mắt, tai, mũi, miệng, tay chơn. Năm thức đầu ra ngoài, tìm hiểu các vật thiên nhiên, để về báo cáo với ý thức. Nhiên hậu ý thức mới sắp đặt các sự hiểu biết (cảm giác) của năm thức đầu, cho thành ra thống hệ và dựa theo đó mà phán đoán giỏi dở, lành dữ, … Ngoài phận sự này, ý thức chỉ biết phần trong thân mình mà thôi, gọi là Pháp. Pháp là các việc xảy ra trong mình ta, ngoài không thấy có hình tướng, như tư tưởng, lành dữ, dục vọng, tấn thối, …

Ý thức tuy hiểu biết được các việc ở ngoài cũng như trong mình, nhưng mà chưa hiểu biết hết sự thật, là thật tướng, vì bị nhiều ảnh hưởng chẳng tốt, làm cho ý thức có lúc mê mờ, đen tối.

Đây, hãy nghe Đức Thánh Trần giảng giải trong cuốn Đạo Học Chỉ Nam:

Đời dưới sự chỉ huy của thức, thức động biến ra thiên hình vạn trạng trong tâm điền, lại còn quá chừng oái oăm xảo diệu, làm cho cảnh đời mặn lạt ngọt chua, làm cho người đời kẻ khóc người cười, bóp méo nặn tròn, ghét trở nên thương, thương thành hóa ghét.

Cảnh đã lung lạc tâm hồn khiến cho đời thành ra lò lửa để thiêu, bể nước để dìm, rìu búa giáo gươm để tề chặt đẽo bào, không một giờ ổn yên. Giá trị của đời là tình cảm, kết cuộc của tình cảm là đau khổ.

Bởi một niệm bất giác khởi lên, mà tâm trở thành thức mới tạo duyên tác nghiệp. Nhứt ba động, vạn ba tùy, một lượn sóng khởi lên, thì muôn lượn sóng do đó mà khởi động. Nên vấn đề sanh tử là một vấn đề quan trọng. Ta cần biết chỗ khởi niệm phát ra lành hay dữ, mà vòng xích luân hồi, phải đẩy ta vào chỗ tối tăm, hay ra nơi sáng suốt

Tâm thức tùy trường hợp cũng gọi là ý thức, tình thức.

Bây giờ cũng cần đi sâu vào một bước nữa, để biết đại lược nghĩa của thức.

Thức là gì?

Thức là sự biết, là phân biệt. Biết của thức kết cấu từ đời vô thỉ dĩ lai, không vật nào chẳng do thức, không sự nào chẳng bởi thức mà ra. Thức ấy sâu rộng, linh hoạt lạ thường, hay rung động, nhóm khởi.

Cảm tưởng ghi nhớ trải qua nhiều thời gian và xuyên vào không gian, nên con người nghe thấy hiểu biết từ cõi thần đến cõi người. Đó là thức lưu truyền. Thức ấy lồng vào thân người, kết hợp với thức di truyềnthức tập truyền, thành ra bà con của nhà thức ngày ngày thêm đông.

Thức di truyền, ta không sao phăng tới nguồn mạch của nó. Nó theo dòng hệ tộc, mà chảy theo thất tổ cửu huyền. Tinh khí cha mẹ cấu nên hình người, là một giọt máu thức chảy ngầm trong thân thể. Nếu giọt máu ấy bởi nguồn trong sáng, sinh ra con người được khôn lanh. Bằng nhơ đục thì trở nên rù rờ, ngu dại.

Chẳng những hai dòng thức trên, mà quan hệ hơn là thêm dòng thức tập truyền, ở trong các con thú vật và thực vật. Khi ta ăn chúng vào mình, sinh tố tế bào của các vật đã lộn vào máu huyết nơi thân ta, thì bè đảng của thức lại được kết nạp mỗi ngày mỗi đông, càng đông càng mạnh, nên có thể làm ngăn ngại cho tự tánh ta thiếu phần linh động tự do. Đến lúc bỏ xác này, tự tánh cũng không đủ sức mà độc lập …”

Tóm lại, thức động là bởi ý, nên gọi là ý thức. Nó là một tay lợi hại nhứt, gây duyên tác nghiệp, làm cho ta phải đọa luân hồi sanh tử. Mà khi ý thức đặng tự tánh soi dẫn, nó đã sáng suốt, thì cũng gọi là Ý chí. Con người nhờ Ý chí mà học hỏi để thi thiết, do kinh nghiệm mà lập nhiều công nghiệp, cho nên ý thức đâu phải hoàn toàn là hư giả, nó cũng có sự ích lợi của nó. Nó cũng như một vị thí sinh, mà cuộc đời là một trường thi để tiến hóa. Cho nên nhà Phật cũng nói: Ý thức hại ta sa Địa ngục mà Ý chí cũng có thể dẫn ta lên chốn Thiên đàng, Cực lạc. Vậy ta há nên xem thường nó mà không cẩn thận sao?

Thế thì Ý có phần dở, mà cũng có phần giỏi, có phần dữ mà cũng có phần lành. Như con dao bén, lành hay dữ là ta tự biết dùng cùng không mà thôi.

Tại sao mà nó có phần dữ?

Theo phái Tiểu thừa của Phật giáo, thì chỉ có sáu thức, tức là thức của con mắt, lỗ tai, mũi, miệng, tay chơn, ý, như nói trên. Mà theo phái Đại thừa có tới tám thức, tức là ngoài sáu thức kể trên, còn có hai thức nữa là Mạt-na thức và A-lại-da thức. Mạt-na thức, người Tàu dịch là Ý căn, còn A-lại-da thức thì dịch là Hàm tàng thức. Hàm tàng thức là Như Lai tạng hiệp với bảy thức đầu mà thành lập.

Ý căn là gốc rễ của Ý thức, nên Ý thức chịu ảnh hưởng của Ý căn. Ý căn chấp Hàm tàng thức làm Bản ngã, cái Bản ngã ích kỷ, nên mất nhiều sáng suốt. Cho nên Phật dạy tu thì phải diệt Bản ngã ích kỷ, thì bảy thức đầu tiêu tan, chỉ còn lại Như Lai tạng là Thiệt tướng, là Chơn ngã của chúng sanh.

Tiếp sau đây, xin nói về Trực giác, là hiểu biết ngay cái Thiệt tướng, cái Chơn ngã nói đó.   

c) Trực giác

Ý thức chấp Bản ngã, lại còn ở trong vòng vật chất hữu hình thuộc về Hậu thiên, nên chưa đặng trọn lành. Một mặt khác, nó chưa trực giác được Thiệt tướng của mình, là Chơn ngã, là tinh thần tuyệt đối, nên còn phóng thể, vong thân để đi ra ngoài. Nó tưởng lầm cái Lý nằm sâu trong Bản tánh của sự vật là những khách quan, ở ngoài bản thân của nó.

Nhưng cái Lý tánh này có đi đâu, mà đâu lại không có nó. Nhà Nho nói: “Vô tại nhi vô hồ bất tại”, nghĩa là: Nó không ở đâu, mà đâu cũng có nó. Lý tánh tỉ như lửa trong một hòn đá xanh. Hễ búa đập vào chỗ nào thì ở đó có văng lửa, còn thôi đập thì lửa cũng không còn thấy nữa. Nó hiện hữu, hoặc không hiện hữu, là do công phu của Ý thức.

Các vật ở ngoài thân ta đều không có thiệt chất, chúng hoàn toàn thuộc về Ý thức. Hễ Ý thức ta nghĩ đến chúng thì chúng hiện có, bằng mà ta thôi nghĩ thì chúng cũng hết luôn như một huyễn mộng.

Vậy ta giữ tâm thanh tịnh, không còn vọng tưởng. Hết vọng tưởng tức là tâm đặng vô niệm, thì không còn bị trần gian cảm xúc nữa.

Cuốn Hiển Tông Ký của Thần Hội mở đầu như vầy:

                                   Vô niệm vi tông,
                                   Vô tác vi bổn.
                                   Chơn không vi thể,
                                   Diệu hữu vi dụng.

Nghĩa là:   

                                   Vô niệm là tông tổ,
                                   Vô vi là bổn căn.
                                   Chơn không là bổn thể,
                                   Diệu hữu ấy công dụng.

Nhưng mà có người nói: Tuy nhiên tâm thức không thể trụ lâu ở tình trạng vô niệm và vô cảm. Hễ ta xua đuổi xong một hình ảnh sự vật nào để đạt tới vô niệm, thì một sự vật khác liền đến phá quấy bằng cách tạo nên những cảm giác và những hình ảnh khác. Vì thế, sự vô niệm có gì là chắc chắn đâu? Đó là một thứ giải thoát luôn luôn bị dao động, bởi sự sanh hoạt tại thế của con người.

Vậy phải làm sao đây?

Đó là công phu vô tác (tức là vô vi) của người tu giải thoát.

Bằng cứ trông chờ vào hình tướng, vào sự kinh nghiệm ở hữu vi, còn ở trong vòng Hậu thiên, thì kết quả cũng là Hậu thiên mà thôi. Phải tu Hậu thiên phản Tiên thiên, là công phu siêu nghiệm, đi đến Chơn không, mới đặng diệu hữu, như bốn câu tông chỉ của Thiền tông đã nêu trước đó.

Chơn không là cái tánh trống không, không còn những vọng niệm, các cảnh giả dối làm trung gian ngăn ngại, nên Ý thức biến thái trở thành Lý tánh, là tinh thần tuyệt đối. Nhà Phật gọi cái tánh này là Chơn không, là Như Lai tạng, là Chơn như Phật tánh. Cái tánh này tịch diệt, vắng lặng, nên kinh nói: “Tịch nhiên bất động”.

Đây nói: Chơn không bất động, nhưng chớ hiểu lầm là ngoan không như gỗ, như đá, như loài vô giác vô tri. Chơn không có nghĩa là không mà chẳng phải không. Một khi động đến nó, thì nó hiểu biết hết các việc trong thiên hạ, nên kinh lại nói: “Cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố”, đó là diệu hữu, nghĩa là: Tuy gọi không mà thông hiểu mọi việc một cách huyền diệu, siêu phàm, tức là nghĩa chữ trực giác nói trên, nên mới gọi chung là Chơn không mà Diệu hữu.

Làm sao mà đặng trực giác (intuition spirituelle)?     

Trên đã nói phải vô niệm, vô cảm, không chấp ngã. Nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu. Phải vào sâu hơn nữa là tu thiền định của Thiền tông Phật giáo, hay là tu đơn của Tiên thiên Đại Đạo là giai đoạn sau, mới có thể hoàn toàn giải thoát.

Đây là một vấn đề cao siêu, phải có những bài giảng khác thuộc về bí pháp, chớ chẳng phải là tri thức thông thường.

Theo một nhà triết học phương Tây, phê bình thuyết của ông Hégel (Hắc Trí Nhĩ), về con người là tinh thần tuyệt đối, có nói rằng: Có phải ông muốn dẫn chúng ta tới một nước Trời cao trọng hơn chăng? Mà vấn đề được đặt ra một cách quyết liệt: giải đáp được, thì học thuyết Hắc Trí Nhĩ có giá trị; không giải quyết được, thì tất cả công phu của ông sẽ bị sụp đổ. Vấn đề ở đây là gắn lại cái mối đã dứt, thâu hồi cái đã bị phóng thể, hay nói một cách dễ hiểu, thì đây là khoảng cuối cùng của con đường về. Chỉ còn chút xíu nữa là tâm thức đi hết vòng (tuần huờn) để trở về với Thiệt tướng của mình, nhưng chút xíu này là chỗ kết đọng của tất cả mọi sự khó khăn.

Ý nói: Ý thức là cái phóng thể đã lêu lổng ra ngoài, bây giờ phải đem nó trở về hiệp nhứt với Thiệt tướng là cái bản thể của mình. Hay là nói theo ông Hắc Trí Nhĩ: Phản đề hiệp với chánh đề, mà huờn thành cái Tổng đề Tiên thiên. Hay là nói một cách khác nữa: Âm và dương, hữu và vô đối lập mà thống nhứt để thành Hoàng cực.

Đến đây, là mức cứu cánh của con đường hành đạo, là Thiên đàng, là Cực lạc, là Niết bàn, là cõi bất sanh bất diệt. Không đến đó thì vẫn còn ở cõi thế gian, chịu luân hồi sanh tử. Khuyên các đạo hữu cố gắng!

3.  Ba giai đoạn này miên tục, chớ không phải gián cách                

Tôi muốn nói: Ba cấp bực nói trên, là Cảm giác, Tri giác, Trực giác chuyền nối với nhau, khó mà chia rẽ ra từng giai đoạn, có ranh hạn dễ thấy dễ biết.

Đây xin lấy tỉ dụ một đứa con trẻ sơ sanh mà chỉ cái lý này.

Khi mới sanh ra cái xác thân của nó còn non nớt, các cơ quan chưa phát triển, sự cảm giác mới bắt đầu lần lần biết cảnh ngoài thân, như màu sắc, tối sáng, biết xác thân lạnh nóng, đói khát, …, rồi lần lần gần với cảnh nào thì quen cảnh, nhớ cảnh nấy; lần lần biết người mẹ cho ăn, cho bú …

Đây là thời kỳ Cảm giác mà thôi, nó mới tập thấy, nghe, ngửi, nếm, tay chơn cảm xúc; mà chưa có ý thức để phán đoán ngon dở, thương ghét, mưu trá, …  Cho nên người xưa thường lấy cái tâm con trẻ chưa bị nhiễm ô, mà gọi là xích tử chi tâm, là cái tâm hiền lành, vui vẻ. Nhưng nó nào biết nó là ai? Bổn phận phải làm gì? Cái Trời ban phú cho nó là bản năng, như cái ánh sáng tạm thời chưa cách xa với Trời, còn dưới quyền Trời điều khiển, nên nó chỉ biết mỗi việc đơn sơ, để giữ sự sống còn của mình (instinct de conservation).

Qua thời kỳ Tri giác, thì sự cảm giác của đứa trẻ đã tiến lên từ xác thịt mà qua linh hồn, mới có ý thức như đã giải trước, là trình độ của Thanh thiếu niên. Con người phải tiến lên nhiều đời nhiều kiếp từ bực thấp mới là đặng cái Bản tánh linh quang nói đây. Nho giáo gọi là Tánh: Hư linh bất muội. Nhưng vì cái tánh này bất giác, nhiễm ô bên ngoài, chớ nó luôn luôn bên trong vẫn sáng suốt. Tỉ như mặt trời bị mây án, chớ mặt trời trong bản chất nào đâu có mất sáng suốt. Một khi mây kéo qua khỏi mặt trời, thì mặt trời vẫn lại chiếu rọi khắp nơi.

Con người trong thời kỳ thứ nhì này, mắc kẹt trong hình thức, còn vọng tưởng ham mộ cái không phải ta, vì chưa nhìn ra cái Bản tánh Thiệt tướng của mình. Họ theo âm thinh, sắc tướng. Nên Phật trong kinh Kim Cang có dạy rằng:

                                          Nhược dĩ sắc kiến ngã,
                                          Dĩ âm thinh cầu ngã,
                                          Thị nhơn hành tà đạo,
                                          Bất năng kiến Như Lai.

Nghĩa là:

                                           Bằng dùng sắc tướng mà thấy Ta

                                           Dùng âm thinh mà cầu Ta.
                                           Thì người đó hành tà đạo,
                                           Chưa thấy được Phật Như Lai.

Nhưng bây giờ các chùa đều dùng sắc tướng (là cất chùa, đúc Phật), dùng âm thinh (là lễ nhạc, tụng kinh) là tại sao?

Đó cũng là theo thích ứng với trình độ, với tâm tánh của bổn đạo, có thấp có cao, chớ không thể nhứt luật thi hành cho mọi người hết được. Nếu tôi hiểu không lầm, chữ tà đạo nói đây là đối với Kim Cang tức là Không tướng mà nói như thế thôi, chớ không phải khinh miệt các cấp bực khác.

Ước mong chư đạo hữu mỗi người nên lo phận sự của mình trước hết, chớ vội khen chê mối đạo nào khác hơn của ta, vì đó là một sự lầm sai đáng tiếc. Thành thử đạo là hiệp nhau, thương nhau, mà trái lại thành ra chia rẽ, ghét ghen nhau. Cho nên Đức Khổng Tử có nói: “Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ ”, nghĩa là: Công kích các mối lạ, là có hại lắm đó!

Đến thời kỳ thứ ba là Trực giác, tỉ như bực lão thành. Có người đã kinh nghiệm việc đời, lo tu giải thoát, cho nên quên hết hình tướng, không còn nhơn ngã, bỉ thử. Bực này là bực đi đến Thánh, Hiền, Tiên, Phật, không còn chấp các chuyện vụn vặt nhỏ nhen, để cho lòng mình thiệt trống không, mà cầu chánh niệm. Vì chánh niệm tự hư vô trung lai, là phần Tiên thiên, chớ không phải do sức phàm phu, hay ý riêng của mỗi người mà đặng.

Cho nên Bài Tâm kinh của đạo Minh Lý có câu:

                                    Không nhơn không pháp mới là,
                               Phát khai trí huệ vượt qua kia bờ.

Nhơn pháp tức là nhơn ngã, bỉ thử nói trên. Dẹp hết hai món đó (Nhị không) mới phát sanh trí huệ mà đặng bỉ ngạn, tức là bờ bên kia của Phật.

Đó có phải là sự tiến hóa có thứ tự, có lớp lang không. Nếu ai tu mà lạp đẳng (vượt bực) thì khó mà đi đến thành công kết quả.

4. Thuyết tiến hóa theo mỗi giáo phái

Mỗi giáo phái luận về tiến hóa dường như đồng nhau ở hình thức, mà về cốt yếu, về căn bổn thì có khác nhau.

Tỉ như đạo Phật nói rằng cái Thiệt tướng của con người là Như Lai tạng, là Chơn như Bản tánh, vốn không có hình tướng, sáng suốt vô cùng, bất sanh bất diệt, thì có gì mà gọi là tiến hóa. Bất quá là nó bị Vô minh che khuất, rồi Vô minh dựa theo đó mà biến ra hình trạng này hay là hình trạng khác mà thôi. Mà Vô minh là do con người bất giác tự mình tạo ra.

Vô minh là huyễn cảnh, cũng như người đau con mắt thấy lửa đốm trên không trung. Một khi con mắt hết đau, cũng như ý thức hết vọng niệm, thì cái Bản tánh Chơn như tự nhiên xuất hiện, chớ có gì thêm, có gì bớt mà rằng tiến hóa hay là thối hóa. Nhưng cạn nghĩ: Bản thể thường trụ, mà con người theo hiện tượng có thăng giáng, phải đó là tiến thối chăng?

Còn đạo Tiên nói rằng: Người vật đều do Đạo mà sanh ra.

Cuốn Đạo Đức Kinh nói: “Đạo sanh nhứt, nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật”.

Cuốn Ngộ Chơn Thiên nói:

                                                Đạo tự hư vô sanh Nhứt khí,
                                               Thiện tùng Nhứt khí sản Âm Dương.
                                                Âm Dương tái hiệp thành Tam Thể.
                                                Tam Thể trùng sanh vạn vật trương.

Nghĩa là:

                                                Đạo vốn hư không sanh Một khí,
                                                Rồi do Một khí rẽ Âm Dương.
                                                Âm Dương hiệp lại, Thể Ba hiện,
                                                Muôn vật Thể Ba tự phát trương.

Bài thơ này của Ngộ Chơn Thiên nói thêm cho rõ nghĩa câu Kinh Đạo Đức nói trên, chớ không phải nói gì khác hơn.

Nhứt khí đây là chỉ Thái cực, mà Thái cực sanh lưỡng nghi là luật tự nhiên của Trời Đất. Hễ Thái cực tịnh thì sanh âm, bằng Thái cực động thì sanh dương. Âm dương hiệp lại mới sanh ra vạn vật.

Con người nếu thuận theo lẽ tự nhiên đó, thì sanh sanh hóa hóa vô cùng, nên càng ngày càng đi xa với Đạo. Cho nên con người phải biết Đạo ở đâu, mà quày về gốc cũ, ngôi xưa.

Thế thì khi đi xuống, không phải tự lỗi ta mà đi. Đó là theo luật âm dương, ta đặng sai xuống cõi trần gian để làm bổn phận của Trời giao phó, mà cũng là đi học tập để phản bổn huờn nguyên, tu luyện thuần dương, hầu trở về thượng cảnh, mà làm Tiên, làm Phật.

Đối với đạo Phật, tự con người bất giác mà xuống, còn đạo Tiên thì con người do luật âm dương mà sanh ra. Hai bên, luận về sanh hóa, tuy có khác, mà bất giác là Vô minh và phần âm của Thái cực, cả hai cũng đều là phần đen tối, mê mờ. Con người phải giải thoát hết cái chi đen tối, mê mờ đó, nên nói về công phu trở về, thì không có gì là khác cả.

Nhưng theo Tiên gia, ta có thể nói là tiến hóa, vì tự ta phá cái mê mờ của luật âm dương, để đi ngược lên mà tìm sự sáng suốt của Đạo; mặc dầu Đạo cũng tiềm tàng ở trong tâm của mỗi người, nhưng khi trở về, con người mới tự biết (Conscience de soi).

Luận về Nho giáo, thì Đấng Giáo chủ cũng theo thuyết Thái cực sanh lưỡng nghi như Đạo giáo. Tuy về phần tu sửa thân tâm, cũng chia ra có Thiên mạng chi tánh và Khí chất chi tánh, cũng có âm có dương, có thanh có trược, mà công phu tiến hóa chỉ theo phần Nhơn đạo: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, mà ít luận đến phần cao siêu thoát tục.

Cho nên thầy Tử Cống nói rằng: “Phu Tử chi văn chương khả đắc nhi văn dã, Phu Tử chi Tánh dữ Thiên đạo bất khả đắc nhi văn dã”.

Thầy Mạnh Tử cũng luận về Tứ đoan: nhân, nghĩa, lễ, trí, có sẵn trong lòng ta, nghĩa là: còn tiềm tàng như một hột giống lành. Mỗi người phải có sức vun trồng, thiệt hành phận sự, thì nó mới phát triển mạnh mẽ, đâm tược nảy chồi.

Đức Thánh Trần có giải về Nho giáo trong cuốn Đạo Học Chỉ Nam, như sau:

Đạo Nho về đường tin tưởng cũng như đạo Phật, đạo Lão, nhận định Bản thể như nhau. Riêng về đường nhơn sanh, thì Nho giáo tự thấy là một trọng trách của con người, đem Đạo để áp dụng vào đời, hướng nhơn sanh đến một xã hội đại đồng.

Đời sống khiến cho ai nấy cũng được ăn ở nhịp nhàng theo lẽ Trời, vui với bổn phận hằng ngày, trau sửa thân tâm, để tiến lên gánh lấy đạo tề gia, trị quốc, cốt ai nấy cũng làm hết phận mình. Lấy lòng thương yêu mà chan lẫn cho nhau, giữ tình hòa mục và nhứt là kẻ trên, người quân tử phải biết mạng Trời mà tu sửa, cho trở nên Hiền Thánh để tham tán hóa dục cùng Trời Đất”.

Về học phái Tây phương, nói về tiến hóa, có nhiều Triết gia, như Đạt Nhĩ Văn, Bá Lạp Đồ, Khương Đức, Hắc Trí Nhĩ …, nhưng đây không thể bàn hết các luận thuyết trong khuôn khổ một bài giảng.

III. KẾT LUẬN

Đạo quí ở chỗ tiến hóa. Nếu vào đạo mà không lo tu học, thì có khác chi người tầm thường ở ngoài đời.

Dầu ta không thành Tiên tác Phật, chớ cũng có thể làm Thánh làm Hiền, ít nữa cũng làm một người lương thiện trong xã hội.

Thời kỳ này, lại có Tiên Phật dạy dỗ, thì quí hóa biết bao! nếu ta bỏ qua cơ hội rất uổng, vì không phải dễ gì mà gặp cơ hội này một lần thứ nhì nữa.

Xin cầu chúc cho các đạo hữu năm mới, đặng trọn một năm an lành và tiến hóa.

                                                                                                                             Rất lòng thành tín

 

       

       

 

 

       

Tin tức liên quan

Top