24/11/2025
NGƯỜI MINH LÝ MÔN SANH - NGHIỆP HÀNH ĐẠO
NGƯỜI MINH LÝ MÔN SANH
Bài giảng ngày 14 tháng Giêng năm Nhâm Dần
(8-02-1962)
MINH HẠNH
Kính thưa chư quí đạo hữu,
Hôm nay, tôi xin phép trình bày với quí đạo hữu một vấn đề tuy tầm thường, nhưng rất là quan hệ. Có lẽ quí vị thường hay thắc mắc, muốn được biết rõ ràng: Mình là người Minh Lý môn sanh thì phải ăn ở như thế nào và phải làm những gì để đem áp dụng vào sự sống của ta hằng ngày, hầu ăn ở cho đúng với tôn chỉ của Đạo, cho xứng đáng là một Minh Lý môn sanh vậy.
Hôm nay, tôi xin trình bày ba điểm sau đây:
I. Vì sao chúng ta lại theo Minh Lý Đạo?
II. Chúng ta nhập môn Minh Lý Đạo, mục đích để làm gì?
III. Bổn phận của chúng ta ở ngoài đời và trong đạo.
*************
I. Vì sao chúng ta theo Minh Lý Đạo?
Kính thưa chư quí vị,
Đây là một câu hỏi mà quí vị thấy có vẻ mù mờ, khó mà trả lời cho đích xác được, là vì trường hợp mình gặp Đạo, duyên cớ thúc đẩy mình theo Đạo, mỗi người một khác, có lẽ là phần ai nấy biết, thì làm sao mà trả lời chung cho được.
Tôi xin lấy vài ví dụ:
Như một vị kia nhơn dịp đến phúng điếu thân mẫu của một người bạn mới từ trần, mà người bạn ấy là một Minh Lý môn sanh. Vị này đến gặp lúc Minh Lý đang làm lễ cầu siêu cho người quá vãng. Thấy sự lễ bái nghiêm chỉnh, có trật tự của Minh Lý Đạo thì ham mộ, rồi từ đó mới lân la đi chùa và lần lần xin nhập môn theo Đạo Minh Lý.
Một vị nọ nhơn có người quen rủ đi chùa Tam Tông Miếu đến lễ bái trong dịp Trung Nguơn. Vì nhận thấy cách thờ phượng hạp thời của Minh Lý, lúc cúng thì đọc kinh bằng Việt ngữ dễ hiểu, nên đem lòng kính mến và từ đó thường đi chùa rồi theo đạo luôn.
Hoặc một vị khác đã có ý muốn tu, nhưng chưa biết theo đạo nào, thường hay đi đến các chùa dự lễ cúng. Ngày kia đến dự lễ cúng cầu an nơi Tam Tông Miếu, tiếp xúc với bổn đạo Minh Lý, thì có cảm tình ngay, nghe lời thuyết pháp thì ngưỡng mộ nên xin nhập môn Minh Lý Đạo.
Đây tôi chỉ lấy một vài ví dụ để làm mẫu, chớ duyên cớ và trường hợp đưa mình gặp Đạo và theo Đạo, mỗi người một khác nhau, không thể nói hết được. Chúng ta thấy dường như có một sự tình cờ khiến ta gặp Đạo, chớ không có gì nhứt định, thì làm sao trả lời chung cho câu hỏi trên được.
Nhưng, thưa quí vị, sự thật không phải như ta thấy. Sự thật không phải là một việc tình cờ, may rủi mà ta gặp và theo Đạo Minh Lý. Tuy bề ngoài ta thấy nhiều trường hợp khác nhau, nhưng bề trong thì chỉ có một duyên cớ chung, một động lực duy nhứt nó thúc đẩy cho cái tâm ta ngưỡng mộ và nhứt định theo Minh Lý chớ không theo nơi nào khác.
Chúng ta nên hiểu rằng: Việc gì trong trời đất này cũng đều do một định luật điều khiển đúng nhịp, từng phút, từng giây. Vũ trụ bao la, không biết mấy tỉ tinh tú lưu chuyển, nhưng không bao giờ đụng nhau, bởi vì mỗi tinh tú đã có một quỹ đạo nhứt định, một thời giờ không thay đổi, do luật Tạo Hóa điều khiển nên mới được vậy.
Con người cũng thế. Người là một tiểu thiên địa theo luật Nhân Quả, thì mỗi việc gì có ảnh hưởng đến đời sống của ta trên thế gian này, đều do sự tiền định, chớ không hề có sự tình cờ. Việc theo Đạo là một việc quan trọng trong kiếp làm người của chúng ta, thì lẽ nào lại không có một sự định trước. Như vậy thì phải có một duyên cớ thiêng liêng xếp đặt cho chúng ta gặp những trường hợp thuận tiện để ngộ Đạo. Cái duyên cớ thiêng liêng ấy khêu gợi trong lòng ta sự ham mộ và tin tưởng Minh Lý Đạo hơn các đạo khác, cho nên khi vừa gặp là ta theo liền.
Thưa chư quí đạo hữu,
Có thể trong những kiếp trước, chúng ta đã từng hợp nhau về một lý tưởng, hoặc cùng nhau theo một đạo, nghĩa là chúng ta đã có sự liên lạc mật thiết với nhau trong nhiều kiếp trước rồi, chớ không phải là mới biết nhau trong kiếp này đâu. Ấy là một sự chắc chắn theo luật Luân Hồi và Nghiệp Báo của Phật dạy.
Ngày nay, tới thời kỳ mở Đạo Minh Lý, nên chúng ta mới cùng sanh ra trong một lúc, trong một xứ, đã gặp nhau và hợp tác nhau khi mối Đạo vừa khai. Tuy là kiếp này chúng ta sanh ra mỗi người trong một gia đình khác nhau, ai nấy có vẻ xa lạ nhau, nhưng sự xa lạ ấy chỉ tại xác phàm mới của chúng ta ở kiếp này mà thôi, chớ trong những kiếp trước, chúng ta là những người đồng một chí hướng, một tín ngưỡng. Ngày nay, do nghiệp báo đưa chúng ta đến ngày giờ này lại gặp gỡ nhau trong một Đạo và cùng lòng thờ Minh Lý. Ấy là một việc đã sắp đặt bởi luật Nhân Quả, chớ không phải là một sự ngẫu nhiên đâu. Xin chư quí đạo hữu hãy tin chắc như thế.
Chúng ta, tất cả Minh Lý môn sanh, đệ tử của Thần Tiên giáng bằng cơ bút, thật chúng ta không thể sánh với số các đệ tử của Phật được, nhưng chúng ta có thể lấy ví dụ là: Khi Phật xuống thế để khai cái Đạo của Ngài, thì các đệ tử của Ngài trong các kiếp trước cũng đều xuống thế trong một lúc để giúp Ngài mở Đạo.
Thần Tiên trước khi mở đạo Minh Lý, thì các Ngài cũng sắp đặt những người giúp các Ngài để mở mang và gìn giữ mối Đạo, mà những người ấy là chúng ta đây, là tất cả Minh Lý môn sanh, từ chức sắc đến bổn đạo, ai cũng có phận sự hết. Cho nên sự theo đạo của chúng ta là do một sức mạnh thiêng liêng lôi kéo chúng ta đến, chớ không phải là một sự tình cờ như bề ngoài mà chúng ta thấy vậy.
Nói tóm lại, chúng ta theo đạo Minh Lý là vì chúng ta có một trách nhiệm trong Đạo do Thần Tiên sắp đặt theo tiền kiếp của chúng ta vậy. Cho nên chúng ta chớ nên thờ ơ, coi việc theo đạo là không quan trọng, muốn nhập môn hay muốn bỏ lúc nào cũng được. Sự tu hành của chúng ta không phải nội trong kiếp này mà thôi, nó bắt đầu từ mấy kiếp trước và còn tiếp tục không biết bao nhiêu kiếp sau này mới đạt đến kết quả.
II. Chúng ta nhập môn Minh Lý Đạo mục đích để làm gì?
Thưa quí đạo hữu,
Ai lại không biết rằng mình nhập đạo để mà lo việc tu hành. Có lẽ ai cũng trả lời như thế. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ kỹ thì chúng ta sẽ thấy câu trả lời ấy không rõ ràng chi hết. Chúng ta cần phải biết rõ từng chi tiết cái mục đích của chúng ta theo đạo để làm gì. Chúng ta cần phải thấy rõ sự tu hành ấy như thế nào mới được.
Có mấy ai đã cố ý tự lập một chương trình tu hành cho đúng với chức vụ thiêng liêng của mình đối với Đạo chăng?
Chúng ta theo đạo mục đích là để tu, có lẽ ai nấy đều trả lời như thế nhưng sự tu của một Minh Lý môn sanh phải có đủ hai mặt:
1. Một mặt hữu hình là lo việc chùa, mở mang cơ sở của Tam Tông Miếu và truyền bá kinh kệ, đạo đức trong nhơn gian, tức là tu đức vậy, nhà Phật gọi là tu phước.
2. Một mặt vô hình là học Đạo Vô vi, rèn luyện tâm tánh, làm cho trong sạch linh hồn, tức là tu tâm vậy, nhà Phật gọi là tu huệ.
Tu đức - Khi vừa nhập môn, chúng ta chưa biết cái Đạo Vô vi là sao, chúng ta chỉ biết cái chùa và việc đọc kinh, cúng kiến nơi chùa. Chùa tức là hữu hình của cái Đạo, cũng như xác thịt là phần hữu hình của linh hồn.
Người thế gian chỉ thấy được hình thức của đạo Minh Lý bằng mắt thịt là chùa, trước khi thấy cái Đạo Vô vi bằng tâm trí.
Chùa là cơ sở để chúng ta hội họp, truyền bá kinh kệ, đem giáo lý của Tiên Phật mà phổ biến trong nhơn gian, để giúp chúng sanh thấy một phần nào của cái Đạo Vô vi, hầu làm cho nhơn loại giảm bớt việc ác và tăng các điều lành. Như thế, việc phụng sự chùa, truyền bá đạo là mục đích hữu hình của người Minh Lý môn sanh khi mới nhập môn.
Chúng ta xin nhập môn Minh Lý Đạo là để gánh vác trách nhiệm nói trên, để giúp đời, chớ không phải mong hưởng riêng một cái lợi vật chất nào. Có hưởng chăng là hưởng những công quả, những cái lợi thiêng liêng do công phu tu hành của chúng ta sau này. Chớ hiện thời, chúng ta là Minh Lý môn sanh, chỉ có phần trách nhiệm vừa kể trên mà ta phải ráng lo cho tròn thôi.
Tu tâm - Khi chúng ta đã học và hiểu chút ít kinh sách, biết cái tầm quan trọng của Đạo Vô vi rồi, thì chúng ta mới bắt đầu lo việc tu tâm, nghĩa là: Làm thế nào cho cái tâm ta sáng tỏ. Sự tu tâm cũng là một phận sự đối với Đạo vậy. Nếu ta ví Minh Lý Đạo như một tòa nhà, thì các Minh Lý môn sanh tỷ như những ngọn đèn trong nhà ấy. Nếu đèn lu thì nhà phải tối tăm, mà đèn cháy tỏ thì nhà mới sáng sủa được.
Chúng ta nên hiểu rằng, người ngoài họ chỉ xem người bổn đạo để đánh giá cái đạo Minh Lý. Nếu tất cả Minh Lý môn sanh đều có học thức, rõ thông đạo lý, tu hành chính chắn, thì thiên hạ có ý tưởng tốt và cảm phục đạo Minh Lý. Còn trái lại, nếu Minh Lý môn sanh dốt nát, không thông đạo lý, không tu hành chính chắn, thì tất nhiên bị người khinh dể và xem thường cái đạo. Bởi vậy sự tu tâm chẳng những cần cho bản thân mình, mà lại là một phận sự đối với đạo nữa. Mà muốn tâm ta sáng tỏ, thì chúng ta phải thiệt lòng lo tu niệm.
TU nghĩa là sửa mình, trau giồi hạnh tiết, diệt trừ dục vọng, un đúc tánh lành, làm cho sạch lớp bụi trần nó che án cái tâm của chúng ta. Làm sao cho cái tâm ấy chiếu sáng, thì mới thật là tu vậy.
Theo lời Phật dạy, thì sự tu hành có thể gom trong ba điều là: làm lành, lánh dữ và trau giồi tâm tánh, tức là trong bốn câu kệ:
Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành.
Tự tịnh kỳ ý,
Thị chư Phật giáo.
a) Làm lành để chi vậy? Là để tạo những quả tốt, để gây những nghiệp lành. Những nghiệp ấy không những để cho ta hưởng phước trong các kiếp sau này, mà còn giúp cho ta tiến bộ dễ dàng trên con đường Tiên Phật. Việc lành thì bao giờ nó cũng đánh đuổi cái điều ác đi xa. Nói cho dễ hiểu, là cái việc lành không những là một cái mầm để sanh quả tốt cho ta hưởng, mà còn là một động lực giúp cho ta chiến thắng cái ác hoặc là tránh bớt các nạn khổ trên cõi đời này.
Như thế nên mỗi khi gặp một dịp nào mà ta có thể làm phải được, thì người Minh Lý môn sanh chớ bỏ qua, dầu là một việc rất nhỏ mọn. Trong kinh Sám Hối (Minh Lý) có câu:
Việc lành chẳng khá bỏ qua,
Tuy rằng nhỏ nhít cũng là công phu.
thì cũng một ý nghĩa ấy.
Từ việc làm đến lời nói, mỗi mỗi ta nhớ lấy lời kinh sám của Tiên Phật dạy làm căn bản. Trong sự sanh hoạt hằng ngày của ta, ta luôn luôn nên suy xét cho đúng lý, cho có ích lợi cho kẻ chung quanh mình.
b) Lánh dữ để làm gì? Là để dứt các nghiệp báo, nó lôi cuốn ta vào vòng luân hồi đời đời kiếp kiếp, không biết chừng nào hết.
Một giống cây xấu, trái đắng, ta không thích mà ta cứ gieo trồng hoài, thì nó vẫn tồn tại mãi chớ làm sao tuyệt được. Bởi vậy, người Minh Lý môn sanh phải lánh dữ, nghĩa là phải tránh làm điều ác trong sự sanh hoạt hằng ngày. Từ việc làm ăn giao thiệp với người khác, cho đến lời ăn tiếng nói, hễ cái nào ta thấy có hại cho kẻ khác, có ảnh hưởng không tốt cho người chung quanh mình, thì ta phải tránh. Như thế, thì ta mới không tạo nghiệp xấu nữa; còn những nghiệp trước của ta, thì nó tiêu mòn lần lần. Nhờ vậy ta mới mong có ngày giải thoát ra vòng luân hồi được.
c) Trau giồi tâm tánh là sao? Là diệt trừ các dục vọng, kềm chế thất tình, rèn luyện những tánh tốt, là làm cho sạch lớp âm khí vô minh nó che lấp cái tâm, để cho tâm chiếu sáng ra ngoài. Ta phải tích cực thi hành theo lời Tiên Phật dạy, để gội rửa tánh tập quán, thì cái Phật tánh của ta mới phát lộ được.
Sự tu hành là một công trình khó khăn. Phải bền chí, bớt lần những sự ăn chơi vô ích theo thế sự. Cố gắng un đúc những đức tánh tốt, những tình cảm cao thượng thì chắc chắn sẽ được kết quả tốt.
Nếu ta không quyết định thi hành đúng theo các mục đích của Đạo, thì dầu có Phật Tổ Thích Ca hay Đạo Tổ Thái Thượng ở trước mặt ta hằng ngày, cũng là hoài công vô ích. Không phải ta chỉ nghe các Giáo Chủ dạy suông, cốt yếu là tại chỗ thi hành các lời dạy. Người ta thường phạm cái lỗi này rất nhiều: Muốn nghe mà không muốn làm, rồi lại than trách Tiên Phật sao không cứu độ mình.
III. Bổn phận của người môn sanh Minh Lý
Minh Lý môn sanh phần đông là cư sĩ, nghĩa là những người ở thế (không nhập tự), nhưng biết lo việc đạo đức, những người tu tại gia. Vì vậy nên chúng ta có hai bổn phận là bổn phận người đời và bổn phận trong đạo.
1. Ngoài đời: Chúng ta có bổn phận đối với xã hội, với những người thế gian và bổn phận đối với gia đình.
a) Đối với xã hội - Người Minh Lý môn sanh ở ngoài thế gian thì cũng như mọi người trong thiên hạ chớ không có gì là khác. Có khác là chỉ khác về tư tưởng, về quan niệm cuộc đời thôi. Vì lẽ chúng ta có học hiểu được một phần đạo đức, biết cái lý lẽ của cuộc đời, nhận được cái thật và cái giả, nên chúng ta không còn ham muốn những cái không đáng ham muốn, không còn ghét sợ những cái không đáng ghét hay đáng sợ.
Người Minh Lý môn sanh mà chưa nhập tự, thì không cần sửa đổi hộ tịch, cách ăn thói ở cho khác thường, để tỏ ra mình là người tu hành. Chúng ta không nên giả dối với người và luôn cả với mình nữa. Chúng ta nhập môn theo đạo Minh Lý để mà tập tu thân, thì sự tu sửa tánh tình của chúng ta cần biết là bao nhiêu thời giờ, chớ không lẽ đầu hôm sớm mai mà ta đã biến ra một người khác thường hay là đã thành Tiên Phật được.
Vậy người môn sanh Minh Lý ngoài xã hội cũng sống như mọi người, nhưng chúng ta giữ theo luật Minh Lý Đạo, nghĩa là chúng ta phải triệt để giữ ngũ giới cấm. Chúng ta làm ăn nghề lương thiện, cố gắng tuân theo lời Phật dạy, nghĩa là làm lành, lánh dữ và trau giồi tâm tánh như tôi đã giải ở trước.
Người Minh Lý môn sanh luôn làm tròn phận sự người công dân nhưng không tham dự những tổ chức chánh trị nào có thể đem sự nghi ngờ không tốt cho Đạo.
Đối với nhơn quần xã hội, thì người Minh Lý môn sanh là một người tốt, sẵn lòng giúp đỡ mọi người tùy theo sức mình, không gây thù oán với ai và không khi nào làm hại ai. Lúc nào người Minh Lý môn sanh cũng giữ phẩm giá mình, không bao giờ làm điều gì có hại đến thanh danh của kẻ khác, huống hồ là nguyền rủa, chúc ác, tìm tâm giết chóc. Mình không làm các việc đó, tức là mình giữ được giá trị của đạo mình đó. Tuy mình không cần quảng cáo, mà tiếng tốt đồn xa, đặng người thương mến.
b) Trong gia đình - Chúng ta là những cư sĩ, người tập tu niệm nhưng còn gia đình, vợ con. Bổn phận ta phải lo cho tròn Nhơn đạo theo lời dạy của Đức Khổng Thánh, là một vị Tổ trong Tam giáo mà Minh Lý thờ phượng. Đây tôi xin phép nói về đại cương, chớ không thể nói hết các chi tiết. Nếu quí vị muốn biết rõ thì xin xem những bài mà ông Định Pháp giảng giải về Khuyến hiếu, khuyến đễ ...
Người môn sanh Minh Lý thờ Đức Khổng Thánh, thì tức nhiên phải ăn ở theo đạo của Ngài trong gia đình, cũng như ngoài xã hội.
Trên hết, đối với ông bà, cha mẹ, thì lấy chữ Hiếu làm đầu. Thờ cha kính mẹ là bổn phận thứ nhứt của con người, thì kẻ tu hành lẽ nào lại không biết. Vả lại chúng ta biết kính thờ Trời Phật, mà nào ta không kính thờ ông bà, cha mẹ, thì sự thờ kính Trời Phật chỉ là một việc giả dối: chỉ vì ta mong sự phò hộ của các Đấng Thiêng Liêng mà ta thờ phượng, chớ không phải do nơi lòng thành thật.
Kế đến là đối với anh em, chị em thì lấy chữ Đễ làm đầu, nghĩa là: Phải thân yêu, hòa thuận trước nhứt. Huynh đệ như thủ túc, một đứa trẻ cũng biết câu ấy thì ta là người biết Đạo Thiêng Liêng, lẽ nào một điều cần yếu trong đạo làm người mà ta không biết và không giữ cho trọn sao?
Sau hết đối với vợ con thì ta có bổn phận phải châu toàn. Vợ con là những người dính líu với ta bởi dây thiêng liêng của luật Nhơn quả. Ta phải lo cho tròn phận sự làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, thì mới mong lo qua bổn phận làm người tu được. Nhơn đạo mà không xong thì mong gì tìm thấy Thiên đạo.
Nuôi con, không phải là chỉ nuôi cho xác thịt nó mau lớn thôi, ta còn phải nuôi dưỡng tâm hồn chúng nó nữa, nghĩa là phải cho chúng nó học hành mở mang trí tuệ, dìu dắt chúng nó theo đường đạo đức, hầu ngày sau những mầm hậu tấn ấy có thể nối chí chúng ta mà bảo tồn Minh Lý Đạo vậy.
2. Bổn phận trong Đạo: Trong Đạo thì ta có phận sự đối với Chùa và phận sự đối với chư đạo hữu.
a) Đối với Chùa - Chùa là phần hữu hình tượng trưng cái Đạo. Người ngoài thế họ chỉ thấy Chùa mà tưởng tượng cái Đạo. Bởi vậy người Minh Lý môn sanh có phận sự phải làm sao cho cảnh Chùa càng ngày càng tốt đẹp để cho mọi người để ý đến Tam Tông Miếu, rồi họ mới tìm hiểu thấu được phần vô vi của Đạo.
Bổn phận chúng ta phải luôn luôn phụng sự cho Chùa, tùy khả năng, tùy phương tiện mà giúp công, hoặc giúp của, để Chùa càng ngày càng thêm đồ sộ, tức là bước đầu truyền bá cho nhiều người biết cái Đạo vậy.
Minh Lý môn sanh thì phải năng đến Chùa ngày sóc, ngày vọng để cúng cầu an cho bá tánh. Ngày thường, ai có giờ rảnh cũng nên đến giúp đỡ công việc Chùa, để tỏ sự sốt sắng, cần mẫn của mình đối với Đạo.
Chúng ta cần phải thường đến Chùa, vì là một việc rất cần ích cho mình. Ngoài việc cúng cầu an cho bá tánh - là một công quả - chúng ta đến Chùa để được hấp thụ cái không khí lành, thấm nhuần tư tưởng đạo đức rất cần cho sự tu hành của chúng ta.
Chúng ta cần đến Chùa, để học hỏi đạo đức với các đạo hữu biết nhiều hơn mình. Học với sách, với Thầy không bằng học với bạn đạo. Khi ta không hiểu một vấn đề đạo đức hay một câu kinh, thì không gì làm cho ta mau hiểu hơn là nhờ đạo hữu giảng giải cho. Cho nên sự đến Chùa tiếp xúc với các đạo hữu là một phương thế giúp ta mau tiến bộ trên đường Đạo vậy.
b) Đối với các đạo hữu - Chúng ta đồng thờ một Đạo, thì chẳng khác nào anh em một nhà. Vì vậy, việc đối đãi nhau cần phải có ba điều cần yếu là:
Thân yêu, Giúp đỡ và Hòa thuận
Thân yêu: Thưa chư quí đạo hữu, khi nãy tôi đã có giải bày rằng người Minh Lý môn sanh, mặc dầu trong kiếp này là người xa lạ nhau, vì xác thịt chúng ta không phải cùng một máu mủ ruột thịt, nhưng linh hồn của chúng ta vẫn có sự liên lạc mật thiết nhau trong nhiều kiếp trước. Chúng ta bị ràng buộc với nhau bởi một sợi dây thiêng liêng còn quan trọng hơn là tình cốt nhục nữa. Như thế thì tại sao chúng ta không biết thân yêu nhau như ruột thịt?
Mặc dầu chúng ta, vì còn phàm tục, tánh tình không đồng nhau được, nhiều khi lại trái ý nhau, nhưng chúng ta không thể ghét bỏ nhau, hại lẫn nhau được. Chúng ta là những người cùng lãnh một trách nhiệm là Khai đạo và bảo tồn đạo Minh Lý. Bổn phận chúng ta phải hiệp sức nhau mà làm cho tròn. Nếu có ai muốn chia rẽ, muốn hại nhau, là người ấy đã làm trái bổn phận, là làm nghịch lịnh của Thần Tiên, thì làm sao tồn tại lâu dài trong Đạo được.
Giúp đỡ: Tất cả Minh Lý môn sanh là anh em thân thiết còn hơn ruột thịt nữa, thì lẽ tất nhiên là phải giúp đỡ nhau. Trong thân thể mà có một bộ phận đau, thì cả thân mình đều không yên ổn. Một Minh Lý môn sanh cũng chịu ảnh hưởng của sự đau khổ ấy, chớ lẽ nào không. Cho nên chúng ta phải ráng giúp đỡ nhau. Khi ta làm giảm bớt một phần nào sự đau khổ của đạo hữu ta, tức là ta làm giảm bớt một phần nào sự đau khổ cho ta vậy. Sự giúp đỡ về vật chất tất cần, nhưng sự giúp đỡ về tinh thần còn quan trọng hơn nữa.
Khi một đạo hữu của chúng ta có việc buồn rầu, chán nản, chúng ta có bổn phận an ủi cách nào cho người không thối chí mà có thể xa Đạo. Một đạo hữu có bịnh nặng, thì chúng ta có bổn phận thăm nom, giúp đỡ và canh gác lúc hấp hối, để đọc kinh giúp cho linh hồn người sáng suốt, một cách giúp đỡ cho linh hồn người chết được siêu thăng và an ủi người sống bớt sự đau khổ lúc chia ly.
Đạo hữu nào chưa thâm nhiễm được lý Đạo, gặp một sự bất mãn là muốn xa Đạo, thì bổn phận chúng ta phải giải thích cho người rõ, an ủi cho người không quên sự tu hành.
Những ai thông hiểu đạo lý khá hơn, thì có bổn phận giảng giải, chỉ bảo cho các đạo hữu trên kia. Phận sự này là quan trọng nhứt, để nâng cao trình độ đạo đức của các Minh Lý môn sanh, để khêu cao sáng tỏ ngọn đèn Minh Lý vậy.
Hòa thuận: Hòa thuận là một đức tánh rất cần khi ta phải sống tập thể, nghĩa là trong một nhóm đông người. Một cái hội mà được vững bền, mạnh mẽ, là nhờ các hội viên đồng tâm hiệp lực mới được. Đạo cũng thế, muốn Đạo được trường tồn, chói lọi, thì tất cả bổn đạo phải đồng tâm nhứt trí mới được kết quả. Chớ nếu có sự xung đột, chia rẽ, nhứt là có sự gây gổ nhỏ nhen, thì làm sao cho mối Đạo đứng vững đặng.
Tôi xin phép lập lại rằng: Chúng ta, tất cả Minh Lý môn sanh, đều kết hợp chặt chẽ với nhau bởi một sợi dây thiêng liêng do nghiệp của chúng ta tạo ra từ nhiều kiếp trước. Nếu bây giờ chúng ta muốn chia rẽ, nghịch lẫn nhau, là một việc sai lầm không thể tha thứ được.
Thần Tiên trong những đàn sau này, nhiều lần dạy chúng ta phải hòa thuận, đồng tâm nhứt trí mà lo cho Đạo thì đủ việc ấy là quan trọng bực nào.
Vả lại, những sự xích mích, thù nghịch ấy mà có, là do sự hiểu lầm hoặc tại chúng ta không suy xét cho thấu đáo mà ra. Tỷ như một đạo hữu của ta có nhiều thói xấu, hoặc ăn nói cộc cằn chạm tự ái của chúng ta, thì ta giận ta ghét. Nhưng nếu ta xét kỹ rằng, người đạo hữu ấy là một người phàm, một người mới tập tu, thì làm sao hoàn toàn như ý muốn chúng ta được. Vậy ta phải lấy lòng từ bi hỉ xả của Đức Phật mà tha thứ, thương hại cho người đạo hữu mình, để tìm cách cảm hóa người, còn hơn là gây gổ, ghét bỏ người.
Một ví dụ khác: Khi đạo hữu ta có một lời nói hay một cử chỉ mà ta cho là xúc phạm ta chăng? Trong 10 lần, ta sẽ thấy hết 9 lần không phải người muốn xúc phạm ta vậy. Còn nếu thật người cố ý xúc phạm ta, thì tại ta đã có làm gì phật ý người, hay vì ta không đủ đức hạnh làm cho người mến, chớ không bao giờ có ai đâu mà vô cớ lại muốn xúc phạm đến kẻ khác làm gì?
Nếu mỗi Minh Lý môn sanh đều bình tâm suy xét như thế, thì có lẽ trong Đạo không bao giờ có sự xích mích, xung đột vô lối nữa.
KẾT LUẬN
Nói tóm lại, tất cả Minh Lý môn sanh là những linh hồn có liên quan mật thiết nhau từ bao nhiêu kiếp trước. Một sợi dây thiêng liêng ràng buộc ta với Đạo. Chúng ta có trách nhiệm mở mang và gìn giữ mối Đạo của Thần Tiên phú thác, thì chúng ta phải đồng tâm hiệp lực mà làm cho tròn.
Ai muốn chia rẽ, phá hoại là hành động trái luật Đạo, thì ngày sau sẽ phải trả lời với các Đấng Bề Trên khi lìa khỏi thế. Cái bổn phận của chúng ta là một bổn phận thiêng liêng, muốn làm cho tròn, thì không gì hơn là tu theo ý nghĩa tôi vừa giải trước.
Trước khi chấm dứt, tôi ước mong chư quí đạo hữu suy gẫm những ý kiến tôi vừa trình bày và nếu như chư quí đạo hữu thấy có phần nào đúng lý, xin chư quí đạo hữu cố gắng làm theo để được xứng đáng là một Minh Lý môn sanh và để làm rỡ ràng cái Đạo.
Rất lòng thành tín
***********
NGHIỆP HÀNH ĐẠO
Bài giảng 14-1 Tân Hợi (1971)
MINH THIỆN
Nghiệp Hành Đạo hay là phương pháp dùng sự động tác, sự làm việc mà giải thoát linh hồn cho khỏi vòng luân hồi. Phương pháp này dễ hơn hết trong ba phương pháp giúp cho ta có đủ đức hạnh để giải thoát cho linh hồn và đưa đến cõi Niết bàn Cực lạc.
Phương pháp này dễ hơn hết trong ba phương pháp: Nghiệp Hành Đạo, Trí Huệ Đạo, Thành Tín Đạo. Dễ đây có nghĩa là ai cũng có thể tu được, không cần gì phải có tài trí đặc biệt, hoặc có khiếu riêng mới tu được.
Tất cả nhơn loại đều tiến hóa theo phương pháp này, nhưng người thường thì hành động theo tánh tự nhiên của mình thúc đẩy, nên tiến rất chậm chạp, không biết bao nhiêu kiếp mới đến mức cuối cùng. Còn người tu theo con đường này cũng hành động như thế, nhưng với sự tinh tiến, với ý chí cương quyết, nên tiến tu mau hơn thập bội, có thể trong vài ba kiếp làm người mà đoạt được cái Đạo.
Xin lấy một tỉ dụ nhỏ mọn: Người thường có tật xấu, như tánh nóng nảy. Người nóng tánh phải bị thất bại trong nhiều công việc; phải bị đau khổ vì sự nóng giận của mình, bị trừng phạt vì hành động nóng nảy. Phải kinh nghiệm trăm ngàn lần như thế, người mới ăn năn, mới chịu để ý tới việc dằn tánh nóng, để khỏi bị những hậu quả đau đớn.
Còn người tu đã biết bổn phận mình phải dẹp trừ các thói xấu, nên quyết định không cho tánh nóng nổi lên; biết suy nghĩ về cuộc đời giả tạo mà dẹp lòng tự ái vô lý, thì sự nóng giận không còn duyên cớ nào để phát khởi lên được. Như thế thì trong một thời gian ngắn, người tu đã bỏ được thói xấu nóng nảy.
Con người là một điểm linh quang của THƯỢNG ĐẾ, nên lúc nào cũng có một sức thiêng liêng nó thâu hút, khiến cho con người phải tiến lên để trở về ngôi cũ. Nhưng vì màn vô minh che án, con người không thấy cái mục đích cao cả của cuộc đời, nên không cố gắng tiến cho mau. Chẳng khác nào một con thuyền không người điều khiển, trôi lờ đờ theo dòng nước, va chạm vào gốc cây, hòn đá, vướng gai góc không đi mau được.
Người tu trái lại như con thuyền có người điều khiển, có chèo, có lái, nên đi ngay thẳng và rất mau đến mục đích.
Bây giờ ta hãy xem sự tiến triển của nhơn loại, của một con người thường (không biết tu hành) như thế nào, thì ta sẽ thấy được con đường Nghiệp Hành Đạo mà ta muốn đi phải làm sao?
Lúc ban sơ, con người còn nhiều thú tánh, họ chỉ biết hành động theo các dục vọng. Có những đòi hỏi của thế chất thúc đẩy theo các sự ham muốn như: ăn, uống, vui chơi ... Có làm việc thì mới mong được các sự vui thích vật chất kia. Không làm việc thì sẽ bị thiếu thốn, buồn khổ. Nhờ vậy mới phá được tánh lại đọa là tánh biếng nhác tự nhiên của con người.
Ai cũng tưởng rằng mình cảm xúc, mình ham muốn, mình vui khổ chớ nào dè những sự xúc động ấy chỉ là những giả cảnh tạo ra ngoài cái tâm, chớ tâm ta đâu cần các sự rối loạn ấy.
Phần đông nhơn loại hiện thời đều động tác theo dục vọng kích thích. Ít có người biết những cái cao thượng, trong sạch hơn. Mặc dầu Thánh Hiền luôn luôn khuyên người phải mở mang trí tuệ, nhưng có mấy ai lấy sự học làm vui. Rất ít người biết thưởng thức cái vui về trí não, nói gì là cái vui thiêng liêng, cái vui đạo đức, thì lại càng hiếm có.
Nếu con người chưa trừ được tánh lại đọa thì làm sao ham hoạt động. Mà sự hoạt động thì rất cần để tiến hóa, mặc dầu là hoạt động theo dục vọng, làm những việc thấp hèn, nhưng còn hơn là không làm gì hết. Sự bất động tác là sự chết, tánh lại đọa là tánh phản tiến hóa.
Bởi thế lúc ban sơ phải nhờ dục vọng nó thúc đẩy con người phải ráng làm việc, chẳng khác nào cây roi để quất con ngựa cho nó chạy tới vậy. Đó là giai đoạn thứ nhứt mà Tạo Hóa dùng để trừ tánh lại đọa của con người. Theo Châu Dịch thì giai đoạn này là giai đoạn miễn cưỡng mà làm.
Tiến lên một bực, con người thấy rằng những sự ham muốn của thú tánh kia là hèn, không xứng đáng với Ta là một điểm linh quang của Thượng Đế. Những vật dục kia chỉ làm cho mình thối chớ không tiến lên được. Bấy giờ người mới bắt đầu ham muốn những cái cao thượng hơn chút ít. Họ bèn hoạt động lung tung, đem hết năng lực, trí não làm việc để mong hưởng kết quả của các việc ấy, hoặc hưởng kết quả vật chất ở thế gian này, hoặc hưởng kết quả trên Thiên đàng hay ở một thế giới khác, sau khi lìa cõi trần.
Họ cố làm việc để giúp Tổ quốc, giúp nhơn loại, họ bỏ nhiều tiền ra bố thí, thật là điều rất hay, nhưng họ còn mong được danh vọng, được quyền tước, hoặc hưởng phước ở kiếp sau. Ấy là chí hướng của phần nhiều của các dân tộc văn minh ngày nay. Con người cố sức làm việc để thâu nhiều lợi cho mình, cố tìm những máy móc để làm cho đời sống vật chất thêm sung sướng.
Các nhà bác học cặm cụi làm việc để phát minh thêm hoài, nhưng cũng không ngoài mục đích làm tăng sự sung sướng cho thể xác như: ăn ngon, ngủ yên, đi mau, về lẹ, làm việc ít và nhẹ nhàng. Nếu có ai làm việc mà không được hưởng chi hết thì họ cho là làm chuyện vô lối, không còn cái lý lẽ của sự làm việc.
Cho đến những người biết tin tưởng Trời Phật, đã biết linh hồn mình bất diệt, thì lại lo làm việc để hưởng phước ở cõi trên, hoặc ở kiếp sau. Sự hoạt động của họ có vẻ đạo đức hơn, nhưng cũng không ngoài mục đích để hưởng kết quả, không ngoài lòng ích kỷ. Như thế họ vẫn bị ràng buộc bởi luật Nhơn quả.
Đó là giai đoạn thứ nhì, giai đoạn mà con người đã bỏ được tánh lại đọa, ham làm việc, nhưng làm việc để phụng sự cho lòng ích kỷ, để được lợi cho mình. Theo Châu Dịch giai đoạn này là giai đoạn chủ lợi nhi hành, mà lợi về vật chất.
Nhưng rồi lần lần, con người cũng nhận thấy rằng mình không làm sao thỏa mãn các dục vọng của mình, không làm sao sung sướng được bền lâu với những kết quả mà mình mong đợi đó. Ta thường thấy nhiều kẻ trọn đời lao tâm, lao lực, để thâu góp tiền của cho nhiều, nhưng rốt cuộc họ vẫn chưa vừa lòng, không sung sướng giữa đống tiền bạc, vì họ vẫn còn ước ao thêm hoài, hoặc ham muốn những cái mà họ chưa có.
Người tu theo con đường Nghiệp Hành Đạo, đến mức này mới đâm ra chán ngán vì thấy không bao giờ mình được vừa ý. Càng ham hố, càng tom góp nhiều chừng nào, thì càng khổ tâm chừng nấy, càng cao danh vọng, càng dày gian nan ấy là thế thường, không bao giờ con người được hoàn toàn hạnh phúc.
Sự chán đời là tâm trạng của người tu đến giai đoạn này là giai đoạn thứ ba. Người không còn màng đến thế sự, muốn lánh xa đời, muốn tránh những vật khêu gợi các dục vọng, để tìm sự yên tịnh nơi chốn rừng núi. Theo Châu Dịch, giai đoạn này cũng là chủ lợi nhi hành, nhưng đây là lợi về tinh thần.
Nhưng khốn thay, người cũng sẽ thất vọng nữa, vì nhận thấy mình tuy lánh xa những vật khêu gợi, nhưng dục vọng nào chịu lìa xa mình, chúng nó vẫn theo đuổi mình mãi. Mặc dầu mình đã trốn trong hang sâu, rừng thẳm, nhưng hình ảnh của những vật mình ham muốn đã ăn sâu vào trí não mình, các dục vọng vẫn còn mạnh mẽ như xưa
Ta nên hiểu rằng, không phải trong tay không có tiền mà ta chẳng ham tiền, không gần sắc đẹp mà ta không mê sắc đẹp, không được danh vọng mà ta không thích danh vọng, vì những ham muốn ấy đã ăn sâu trong tâm ta thì làm sao rứt bỏ chúng nó trong khoảnh khắc cho được.
Bây giờ kẻ tu hành mới thức tỉnh, mới hiểu rằng: không phải lánh xa thế tục mà trừ được dục vọng, không phải ngồi không một chỗ mà dứt được nhân quả, trả hết nghiệp chướng và được Tiên Phật rước về Thiên đàng. Ta phải lăn lộn, chiến đấu trên đường đời để tự mình cởi mở dây oan nghiệt cho mình, ta phải sống đời vật chất, nhưng không để cho chúng nó ràng buộc ta. Ta phải làm các việc thế sự, nhưng không phải để hưởng lợi như trước, dầu lợi vật chất hay tinh thần, không phải làm nô lệ cho một thứ lợi nào cả thì mới là được giải thoát.
Đến đây người tu hành đã qua khỏi giai đoạn ba và bước qua giai đoạn thứ tư là giai đoạn chót trên con đường Nghiệp Hành Đạo. Theo Châu Dịch, giai đoạn này là giai đoạn an nhiên nhi hành, nghĩa là mọi việc đều thản nhiên không mong cầu chi cho mình cả.
Tâm trạng người tu đã hoàn toàn đổi mới. Người quan niệm cuộc đời khác hẳn khi xưa. Người không còn cắm đầu chạy theo những bả vinh hoa hay những mồi phú quý nữa. Nhưng người cũng không trốn tránh phận sự làm người ở trần thế, vì phận sự ấy do mình đã tạo ra nay tức nhiên mình phải làm cho tròn, phải làm đàng hoàng hơn trước, với một quan niệm rất khác khi xưa.
Tỷ như ta là một nhà tư bản có phận sự làm ra nhiều huê lợi, thì ta vẫn cứ lo làm ra nhiều tiền. Nhưng trước kia thì ta thâu huê lợi để hưởng một mình, còn nay thì ta thâu lợi để giúp đỡ đồng bào, nhơn loại, chớ không nghĩ tới mình nữa. Bởi vậy, mặc dầu tiền vô như nước, mà ta vẫn thản nhiên, không mừng, không bị xúc động thái quá, có thể so sánh như một người quản gia thâu huê lợi cho chủ vậy thôi.
Đến đây, người tu Nghiệp Hành Đạo phải coi chừng mình vương vào một sự ham muốn khác, tuy tinh tế hơn, trong sạch hơn, nhưng nó cũng là dục vọng. Ấy là sự thích xem cái kết quả của việc mình làm. Tỷ như ta muốn cho việc làm của ta được kết quả tốt đẹp. Cũng có khi ta muốn thấy những kẻ hưởng nhờ tỏ ý biết ơn và hoan nghinh ta, như thế, dầu ta không muốn hưởng lợi vật chất, nhưng ta còn có sự ham muốn về tinh thần, ấy cũng là một loại dục vọng, mà bao giờ ta còn dục vọng, thì ta vẫn bị luật Nhân Quả nó buộc trói ta vào bánh xe luân hồi.
Người tu theo Nghiệp Hành Đạo, muốn tự mình giải thoát, thì phải biết làm phận sự mà không màng đến kết quả, chỉ lo giúp nhơn loại, chớ không nghĩ đến lợi riêng cho mình, phải bỏ hẳn cái Ta ngoài công việc của mình làm.
Nói tóm lại, người tu làm phận sự là theo tiếng nói lương tâm, chớ không vì kết quả, không có chút chi mong hưởng cái kết quả ấy ở cõi này hay ở cõi Trời, mà cũng không màng đến sự biết ơn của ai hết.
Việc làm, dầu được, dầu thất, thì người đã làm phận sự vẫn vui lòng. Trước sự mất còn, đặng thất, vinh nhục, vui khổ, thương ghét, tâm người tu vẫn bình thản, không không. Sự không ham muốn ấy phải tự nhiên trong tâm ta chớ không phải nói ngoài miệng mà được. Đó là điều cốt yếu trong phương pháp tu Nghiệp Hành Đạo vậy.
Chúng ta có thể tóm tắt như vầy:
Ta không nên bày chuyện, nghĩa là không làm cho sanh ra việc này việc nọ rắc rối. Nhưng khi có việc đến thì ta không trốn tránh. Phải sẵn sàng hành động, nếu phận sự bắt buộc, mà cũng sẵn sàng không hành động nếu không phải là phận sự, và cũng không quan tâm đến kết quả của việc làm mình đã làm.
Được như thế, thì dầu ta ở trong một lâu đài sang trọng, ăn cao lương mỹ vị, có đủ mọi sự sung sướng, ta cũng không mừng, hoặc ở trong một chòi tranh, mặc rách rưới, ăn uống đạm bạc rau cải, thì ta cũng không buồn. Vì lẽ ta không chê các thứ nhỏ nhen phàm tục ấy, nên dầu có dầu không ta cũng không để ý.
Từ lúc giàu đến lúc nghèo, từ chỗ sang qua chỗ hèn, từ trên cao xuống bực thấp, ta vẫn tự nhiên không hề xúc động. Cái chi mà ta không ham muốn, thì ta không hề đem lòng mến tiếc. Dầu ở địa vị nào ta cũng vẫn vui, vì lẽ ta không thích chi hết, mà cũng không chê chi hết. Được như thế, tâm ta mới yên tịnh, sáng suốt, ta mới thấy cái thật thể của ta, mới thấy ta và Thượng Đế là một, rồi ta mới hy sinh hoàn toàn cho Đấng Chí Tôn.
Mỗi việc làm của ta đều có một mục đích là để phụng sự Thượng Đế, bấy giờ ta mới thấy sự vui tràn ngập tâm của ta, ta vui trong các công việc làm.
Khi mà đời ta chỉ biết hy sinh, biết cho ra mà không đòi hỏi lại, tỷ như mặt nhựt rọi ánh sáng khắp nơi cho mọi người đều hưởng nhờ, thì chừng ấy không còn dây nhơn quả nào buộc trói ta được nữa. Khi đó người tu đã đạt đến mục đích, đã thoát khỏi vòng luân hồi và hiệp một với Đạo vậy.
Rất lòng thành tín
GHI CHÚ:
Bài NGHIỆP HÀNH ĐẠO này trích ở bài giảng ngày 14.1.1971 của Cố Định Pháp Minh Thiện về đề tài “Les trois sentiers” của bà ANNIE BESANT, Hội trưởng HỘI THÔNG THIÊN HỌC.
NGHIỆP HÀNH ĐẠO là phương pháp dễ nhứt để linh hồn ra khỏi vòng luân hồi.
Top