LỜI NÓI ĐẦU

24/11/2025

LỜI NÓI ĐẦU - PHÀM LỆ

LỜI NÓI ĐẦU

Đạo Minh Lý ra đời từ tháng 11, năm Giáp Tý (Décembre 1924).

Ông Âu Minh Chánh đã giải bày nguyên do khai sáng mối đạo trong bài lược thuật về việc tiếp kinh (thỉnh xem bài này trong các kinh Minh Lý). Đây xin chỉ cách nghiên cứu lập thuyết cho độc giả dễ hiểu mục đích và hành động của đạo Minh Lý, đại khái sẽ đem nói trong quyển sách này.

Phàm hốt một thang thuốc trị bịnh, vị lương y phải bốc nhiều món thuốc, phân ra có: Quân, thần, tá, sứ, thì công dụng thang thuốc chắc đặng hoàn toàn. Còn mở đạo dạy đời, muốn lập lý thuyết, cũng phải đủ tài liệu, thì sự kết quả mới mong tốt đẹp.

Những tài liệu của đạo Minh Lý có thể phân ra làm bốn loại:

1. Lời dạy của Phật Tiên Thánh giáng bút theo thời kỳ này để qui nguyên Tam giáo, tỉ như quân.

2. Giáo lý xưa của Nho, Thích, Đạo, tỉ như thần.

3. Văn hóa phương Tây, tỉ như .

4. Văn quốc ngữ, tỉ như sứ.

Quân là vua, làm chủ, Thần là tôi, như các quan lớn. là giúp, chỉ người giúp việc. Sứ là sai đi, cũng có nghĩa là người đem tin.

Quân tuy sáng suốt, mà sao khỏi có lúc sai lầm, nên cần có thần can gián; tuy trọn quyền, mà sức một người đâu làm đủ hết mọi việc được, nên cần có thần giúp đỡ. Thần lại cậy coi giữ trật tự trong ngoài, trợ mình thi hành luật lệ của nhà vua, và nhờ sứ để truyền lịnh, thì sự thi hành nói đây mới được mở rộng khắp nơi.

* Quân – Tam Giáo Tổ Sư khai đạo Minh Lý, chẳng phải dựa theo một giáo lý nào mới. Tùy thời, các Ngài chỉ nhắc lại những lời thiết dụng cho đời, y theo ba tông giáo lớn, đã được người phương Đông sùng bái xưa nay đó thôi. Xin xem các kinh sách của chư Phật, chư Tiên giáng bút tại Tam Tông Miếu và đã ấn tống khắp nơi.

Ý kiến qui nhứt Tam giáo chẳng phải mới, nhưng tới nay chưa có ai lập thành thống hệ hẳn hòi. Cái phận sự lớn lao của Tam giáo Tổ sư nhứt định cho những người gầy dựng đạo Minh Lý, là vưng theo ý trên mà lập một lý thuyết căn bổn cho mối đạo này. Những người theo đạo Minh Lý chỉ học cái thuyết chung này mà thôi.

Mới mở đầu bài, cuốn Bố Cáo của đạo Minh Lý liền nói rằng:

                                                     Tam tông giáo tuy là khác chủ,

                                                     Minh Lý rồi, phải đủ cả ba.

                                                     Thí như lập đặng tòa nhà,

                                                     Thiếu tay chủ quỹ, ai mà đởm đương?

                                                     Lại còn cần kẻ lo lường,

                                                     Nhọc công bồi bổ, mới thường ấm no.

Đây là lời giáng bút của Đức Khổng Tử hình dung cái đạo Minh Lý.

Ngài lại giải rõ rằng: Chư nhu muốn lập thành đạo Minh Lý, thì chẳng khác nào người ở đời muốn lập thành gia thất. Chẳng phải cất cái nhà không là đủ. Trong nhà, cần phải có người chủ quỹ, lo việc nội trợ, là người đàn bà, và cũng phải có người đi làm công ở ngoài đem của về nhà, là người đàn ông, thì sự sống chung mới đặng vững vàng”.

Xét kỹ, ba tông giáo tuy là khác chủ, mà mỗi giáo có một sở trường. Nếu ai biết cách hiệp lại mà dùng thì ba giáo có thể điều hòa, trợ lẫn nhau, chớ không phải làm hại nhau.

* Thần – Những người có trách nhiệm mở đạo Minh Lý gọi là nghiện tu tử. Tuy có Thánh ngôn dạy về “lý hiệp nhứt” làm căn bổn, nhưng cũng cần phải nghiên cứu cả ba giáo: Nho, Thích, Đạo mới có thể lập thuyết. Đó là ba cái kho đựng đầy vô giá bửu, biết chọn mà dùng thì chẳng thiếu món chi.

Một mặt khác, chúng tôi có lập một Sở phát kinh. Ngoài những kinh của Tiên Phật giáng bút truyền tại Tam Tông Miếu, chúng tôi cũng có thâu nhận những kinh sách Tam giáo hoặc do bổn đạo Minh Lý ấn tống hoặc do người hảo tâm ở ngoài đạo gởi đến cậy phát giùm. Đó là kinh sách xưa truyền lại bằng chữ Nho, hay là chữ Phạn, nay dịch ra quốc âm, ngõ hầu giúp ích cho các bạn tu hành, theo sở nguyện riêng của mỗi người.

* Tá Buổi này là văn hóa Âu, Á giao thời. Khi dạy đạo lý, Tam giáo Tổ sư có khi cũng dùng khoa học và triết lý phương Tây, mà giảng giải cho những thính giả Âu học mau nghe và dễ hiểu.

Ý các Ngài cũng muốn cho chúng tôi tùy thời mà dung hòa hai thuyết Đông Tây, để hỗ trợ lý thuyết của Tam Gíáo và trừ bỏ các điều tà thuyết dị đoan.

* SứChư Phật, chư Tiên dạy Đạo ngay bằng chữ quốc ngữ. Cho tới kinh tụng, sớ điệp của chúng tôi dùng trong khi lễ bái, cũng là bằng văn quốc ngữ.

Lẽ tất nhiên, đạo khai ở nước nào, thì phải dùng tiếng nước đó mà truyền bá, mới phổ cập dân gian. Lại cũng tránh được cái họa phiên dịch lầm sai nữa.

Cho nên văn quốc ngữ chẳng khác nào người đem đạo Minh Lý mà truyền bá khắp nơi. Tương lai của nó rất có ảnh hưởng đến mối Đạo này.

Chúng tôi rất ước mong cho các chất thuốc đều đặng tinh hảo, thì có lo gì thang thuốc hiệp theo cách nói trên là thống hệ chung hay là lý thuyết của đạo Minh Lý, không trị lành bịnh của người đời.

Đức Khổng Tử thường nói: Chí sĩ, nhân nhơn, vô cầu sanh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân, nghĩa là: Kẻ chí, người nhân, không khi nào vì cầu sự sống mà làm trái lòng nhân. Mình cam chịu chết để giữ trọn lòng nhân thì có ý nói: Thà đặng Đạo mà chết, còn hơn không có Đạo mà sống.

Lại nói: Ban mai nghe Đạo, ban chiều dầu chết cũng đành. Chết vì lẽ Đạo vừa nói trên (để giữ trọn lòng nhân...), chớ chẳng phải vô cớ mà muốn chết. Vậy Đạo có phải quí hơn sự sống chăng?

Nếu ai ai cũng nghe hiểu Đạo, biết phận sự làm người, thường giúp ích cho nhau, mà không phá hại nhau, thì tự nhiên muôn dân được an cư lạc nghiệp, xứ xứ đều mỹ tục thuần phong. Trong cảnh đất Thuấn, trời Nghiêu, thiên hạ tương thân tương ái, bắt tay dắt dìu nhau trên con đường ngay lẽ thiệt. Đó không phải là Cực lạc ở thế gian này sao?

Bỏ Đạo ra ngoài, mà muốn yêu cầu hạnh phúc cho mình, hay là cho người, bất luận ở cảnh nào, thì không khác chi người đói đi tìm ăn bánh vẽ.

 Sài Gòn, mồng tám, tháng Giêng

năm Canh Thìn (15-02-1940)

 Nguyễn Minh Thiện

 

PHÀM LỆ

 

 

 

1. Phật Tiên giáng bút dạy chúng tôi, có việc cắt nghĩa rõ ràng, có việc chỉ giải sơ cho biết, hay là dạy xem trong sách hiệu nào, khoản thứ mấy, có giải nghĩa về việc đó. Ấy chẳng qua là cơ bút viết từ chữ rất lâu, nên Thần Tiên muốn tiết kiệm ngày giờ.

Cho nên trong quyển sách này, ngoài lời dạy rõ hay là lời kinh sách của Phật Tiên mới giáng bút theo thời kỳ này, chúng tôi có khi cũng giải rộng thêm lời các Ngài đã dạy sơ qua, hoặc là nhắc lời ghi trong kinh sách xưa của Tam giáo.

2. Mỗi khi dẫn lời của Tiên Phật giáng bút, chúng tôi có thêm hai chữ giáng bút cho dễ phân biệt.

Khi nào dẫn chứng trong kinh sách xưa có phần hệ trọng, chúng tôi chép luôn câu văn chữ Nho cho độc giả dễ nghiên cứu. Còn kỳ dư không quan hệ lắm, chúng tôi chỉ nói nghĩa xuôi cho mau hiểu.

3. Sách này là sách phổ thông, nên chúng tôi thường dẫn lời ghi trong sách Nho hơn. Nhưng nếu thiệt cần ích, chúng tôi cũng dẫn luôn lời dạy của cả ba giáo, để cho rõ lý hiệp nhứt. Thể theo ý Tiên Phật, chúng tôi cũng viện đôi chút lý triết học.

 

Miễn rõ thấu chơn lý là hơn, vì học Đạo cốt ở y pháp, chẳng phải y nhơn. Vậy xin độc giả xét xa hiểu rộng, chớ nên câu nệ ở câu văn hay lời dạy của phái này, phái kia mà làm chi (hư tâm cầu lý).

4. Phật giáo căn cứ ở bổn tâm, có ba mặt là: Giải, Tín, Hành, ví như triết học ngày nay gọi: Trí, Tình, Ý  là ba thứ tác dụng của cái tâm.

Sách này căn cứ ở Lý tánh, là bổn thể của tâm. Tác dụng của tâm tức là tác dụng của tánh. Cho nên chúng tôi cũng theo thứ tự đó mà trình bày mục đích, tông chỉ và hành động của đạo Minh Lý. Vậy sách có năm chương, kể ra sau đây:

     Chương nhứt: Tổng luận, nghĩa là luận đại cương

     Chương nhì:   Giải, nghĩa là hiểu biết

     Chương ba:    Tín, nghĩa là tin tưởng

     Chương tư:     Hành, nghĩa là làm việc

     Chương năm: Kết luận.

 

“““

Tin tức liên quan

Top