13/11/2025
MỤC ĐÍCH - TÔNG CHỈ - ĐẠO MINH LÝ ĐỐI VỚI NHO, THÍCH, ĐẠO VÀ TRIẾT HỌC
CHƯƠNG THỨ NHỨT

I. MỤC ĐÍCH
VÕ TRỤ QUAN
Các tông giáo đều có nói tới chữ Đạo. Vậy người học đạo, trước hết, cần phải biết Đạo là gì.
Đại khái, Đạo có ba nghĩa, cao thấp chẳng đồng:
1. Đạo là con đường đi (nghĩa đen);
2. Đạo là lý (lẽ phải) nhứt định, tức là con đường ai ai cũng phải noi theo (nghĩa rộng);
3. Đạo là nơi cứu cánh, là mức cuối cùng của con đường nói trên. Thành ra nghĩa thứ nhì là phương pháp, nên cũng có nghĩa là tông giáo (như nói đạo Phật, đạo Nho…), để đạt tới nghĩa chót là mục đích (nghĩa đệ nhứt).
Lấy thứ tự cao thấp, cái nghĩa đệ nhứt này, cao hơn hết, đáng lẽ phải sắp ở trước. Nhưng theo phép tự hạ đăng cao, trước phải giải nghĩa dễ, thành ra nghĩa khó phải để đàng sau.
Theo nghĩa chót, Đạo (xin viết bằng chữ Đ lớn cho dễ phân biệt) là lẽ phải tột bực, tuyệt đối; là sự thiệt hoàn toàn, vô song. Đó là cơ động đầu tiên, có chỉ rõ trong hình chữ Đạo
trên là chữ thủ
, nghĩa là cái đầu, hay là đầu tiên, dưới là quai xước
, nghĩa là vận hành hay là cơ động. Vậy Đạo là cơ động đầu tiên tức là nguyên nhân thứ nhất của võ trụ.
Trong khoảng trời đất, kinh Dịch chỉ nhận có khí âm, khí dương mà thôi. Hai khí đối lập với nhau, gọi là tương đối. Cả hai có một thể tuyệt đối làm căn bổn.
Cái thể này khi động thì sanh dương, hết sức động rồi tịnh; khi tịnh thì sanh âm, hết sức tịnh lại động, cứ luân chuyển như thế mãi. Xét vì đó là gốc sanh của âm dương nên gọi là Thái cực, Thái cực nghĩa là cực đại (hết sức lớn.)
Kinh Dịch nói rằng: “Ngữ Đạo chi toàn thể vị chi Thái cực, ngữ Thái cực chi lưu hành vị chi Đạo”, nghĩa là: Nói về cái toàn thể của Đạo (tức là gốc sanh âm dương) thì gọi là Thái cực. Còn nói về sự vận hành của Thái cực thì gọi là Đạo. Đạo và Thái cực là hai phương diện của một vật.
Phăng ngược về trước Thái cực, Đạo không tiếng hơi (vô thinh xú), không dấu vết (vô trẫm triệu) thì gọi là Vô cực. Vô cực nghĩa là cực vô (hết sức không). Vô cực và Thái cực là hai thời kỳ của Đạo.
Ông Châu Liêm Khê (Nho giáo) gọi Đạo là “Vô cực nhi Thái cực”. Ý ông muốn nói: Đạo là chơn không mà diệu hữu, nghĩa là: Trong chỗ người ta không nghe tiếng hơi, thấy dấu vết chi kia, mà là mầm phát sanh muôn vật.
Có bài thơ của Ông Đạo Quang nói về cái thể của Đạo như sau này:
Hữu vật tiên thiên địa,
Vô hình bổn tịch liêu.
Năng vi vạn vật chủ,
Bất trục tứ thời diêu.
Nghĩa Nôm:
Có một vật kia trước đất trời,
Không hình, vốn thiệt bặt tăm hơi.
Cầm quyền chủ tể sanh muôn vật,
Tám tiết trơ trơ chẳng đổi dời.
Còn theo thứ tự xuôi của Đạo biến chuyển, Ngộ Chơn Thiên có bài thơ rằng:
Đạo tự hư vô sanh nhứt khí,
Tiện tùng nhứt khí sản âm dương.
Âm dương tái hiệp thành tam thể,
Tam thể trùng sanh, vạn vật trương.
Đạo ở trong chỗ không không kia (Vô cực) mà phát sanh một khí (Thái cực). Một khí sanh ra âm dương. Âm dương hiệp lại cùng nhau, thành một cái thể thứ ba cũng là một khí. Rồi cái thể thứ ba này cứ sanh hiệp như vậy mãi, mà hóa thành muôn vật([1]).
Kinh Dịch nói: “Âm dương diệc vận giả, khí dã. Kỳ lý tắc sở vị Đạo”, nghĩa là: Âm dương luân chuyển với nhau thì gọi là khí. Còn cái lý (raison) hay là sở dĩ nhiên (cause) của nó thì gọi là Đạo.
Thế thì từ Thái cực sắp về trước thì gọi là lý. Còn khi Thái cực khởi động tịnh sanh âm dương về sau, thì gọi là khí, cho nên người xưa hoặc gọi lý Thái cực là chỉ thời trước, hoặc gọi khí Thái cực là chỉ thời sau.
Đến lúc có khí rồi, lý Thái cực ẩn ở trong khí mà không biến đổi, thành ra lý khí hỗn hiệp cùng nhau. Vì đó mà lý ở trong khí luôn, còn khí không lúc nào rời lý.
Âm dương lại chia ra làm hai từng: Tiên thiên và Hậu thiên. Theo bát quái Tiên thiên, âm dương cũng gọi là Kiền Khôn, thuộc về khí, chủ về sanh. Theo Bát quái Hậu thiên, âm dương cũng gọi là Khảm Ly, có hình chất, chủ về thành (nuôi nấng cho đến trọn thành hình). Cho nên kinh nói: “Lưỡng trùng thiên địa, tứ cá âm dương”, nghĩa là: Hai từng trời đất, bốn thứ âm dương.
- Tại sao mà có hai từng âm dương?
- Vì trước khi hóa thành võ trụ và người vật, khí vốn trong sạch. Đương thời, khí theo mạng lịnh của lý, thì không có chi chẳng đúng đắn, hoàn toàn, nên gọi là khí Tiên thiên. Kinh Dịch nói: “Tiên thiên nhi thiên phất vi”, nghĩa là: Khí ở trước Trời thì Trời không trái (không bị hạn chế). Âm dương Tiên thiên còn ở trong khí Thái cực, nghĩa là: Tuy âm dương có khác, mà cũng là một khí lúc động, lúc tịnh mà thôi.
Đến khi hóa thành võ trụ cùng người vật, khí đã biến ra hình chất, lần lần trở nên thô trược, nên gọi là khí Hậu thiên. Kinh Dịch nói: “Hậu thiên nhi phụng thiên thời”, nghĩa là: Khí ở sau Trời thì phải thuận mùa tiết của Trời (bị hạn chế). Âm dương Hậu thiên đã sanh ra ngoài khí Thái cực, nghĩa là: Hai chất đã chia rẽ hẳn và ở chỗ khác nhau.
Hễ âm dương hiệp thì sanh thành, âm dương tán thì diệt vong. Cho nên muôn vật sanh diệt là do khí.
NHƠN SANH QUAN
Trời Đất có lý khí, người vật cũng có lý khí, nên Thánh Hiền xưa gọi con người là tiểu thiên địa. Lý khí ở trong thân thể con người, thì gọi là: Tánh và Mạng, Thần và Khí, Nhứt và Nguơn. Tục thường gọi là hồn phách, nhưng hồn phách riêng chỉ phần Hậu thiên mà thôi.
Trong võ trụ toàn thể, đâu đâu cũng là khí cả, thì có chỗ nào không phải là lý. Con người nhờ khí mà thành hình, thì cũng do lý làm tánh. Tâm con người cảm ứng là khí lưu hành. Chẳng mê muội là vị chủ tể. Cảm ứng ví như khí lưu hành, không tránh khỏi sự sai thất (âm dương chẳng điều). Nhưng rốt cuộc, cũng có thể hiểu chỗ sai thất đó, tức là vị chủ tể chẳng mê muội.
Kinh Thi nói: “Thiên sanh chưng dân, hữu vật hữu tắc. Dân chi bỉnh di, háo thị ý đức”, nghĩa là: Trời sanh ra các sắc dân, hễ có vật thì có phép tắc. Cái phép tắc tự nhiên Trời phú cho dân giữ lấy, là ưa mến đức lành.
Lời kinh có ý nói: Trời sanh ra loài người trong võ trụ, phàm có hình thể (do khí sanh), thì đều có phép tắc (tức là lý). Phép tắc này ở trong bổn tâm của mỗi người, làm kiểu mẫu cho các đức lành, khiến cho ai ai cũng có thể nhận các đức lành mà ưa mến.
Đức Khổng Tử khen tác giả của bài thi này rằng: “Kỳ tri Đạo hồ?”, nghĩa là: Phải người đó biết Đạo chăng? Đức Khổng Tử và tác giả của bài thi này, hai người tuy khác thời đại, mà đồng nhận một lẽ phải, một sự thiệt, là loài người có phép tắc, có mục đích. Cái phép tắc, cái mục đích này gọi là Đạo.
Kinh Lễ nói: “Đại Đạo chi hành, thiên hạ vi công”, nghĩa là: Đại Đạo được thiệt hành khắp nơi, thì thiên hạ đều theo lẽ công.
Kinh Đạo Đức nói rằng: “Cổ chi sở quý thử Đạo giả, bất viết cầu dĩ đắc, hữu tội dĩ miễn dã?”, nghĩa là: Tại làm sao người xưa quý trọng cái Đạo này, có phải là nhờ Đạo mà cầu điều lành thì liền đặng lành, cầu khỏi tội thì đặng khỏi tội ngay chăng?
Cho nên Đạo là luật công bình, làm tiêu biểu chung cho loài người chớ không phải là phần riêng của một vị Giáo Chủ nào cả. Các bực giáo chủ là bực tiên giác, phát minh lẽ Đạo cho kẻ khác được biết mà thôi.
Đủ rõ rằng: Đạo vẫn đồng cho thiên hạ. Nếu người người đều sùng kỉnh một lẽ Đạo, thì mới có thể cùng sống mà không hại nhau, cùng động (làm việc) mà không trái nhau. Chúng sanh mới mong thiệt hiện cảnh thái hòa ở thế gian này. Thế thì Đạo chủ về hòa bình.
Bởi Đạo ở trong tâm của mỗi người, cho nên Đức Khổng Tử lại nói: “Đạo giả dã bất khả tu du lị dã. Khả lị, phi Đạo dã”, nghĩa là: Đạo chẳng khá lìa ra khỏi mình giây phút nào cả. Nếu lìa ra được, là chẳng phải Đạo. Vì lẽ đó mà Đạo cũng gọi là tự thân đích mục đích, nghĩa là mục đích ở trong thân mình.
Nhà triết học phương Tây là Khương Đức (Kant) chỉ sùng bái hai vật, có nói rằng: Một là tinh không (firmament) ở trên đầu ta, hai là luật đạo đức (loi morale) ở trong tâm ta. Tuy lời nói có khác, nhưng xét kỹ lại, có phải là chỉ ngay cái Đạo của người phương Đông ta chăng?
Nếu muốn mở đàng phước lành, đóng cửa tội dữ, nâng cao nhơn cách, kết dây đoàn thể, ngoại trừ mục đích trong thân nói trên, thì quyết không còn phép nào hay hơn nữa. Các mục đích khác ở ngoài thân đều là dối giả, không bền, nên chỉ gieo sự chia rẽ và rối loạn giữa loài người mà thôi.
Đạo Minh Lý há chọn mục đích nào khác sao?
II. TÔNG CHỈ
ĐỊNH NGHĨA CHỮ MINH LÝ
Tông chỉ là ý chỉ, lối xu hướng của mỗi tông phái.
Tông chỉ của đạo Minh Lý ở trong hai chữ hiệu đạo Minh Lý. Chữ Minh trước là động từ, chữ Lý sau là danh từ.
- Minh là nghĩa gì?
- Lấy nghĩa thường thức, Minh là thông hiểu, nhận biết rõ ràng. Theo đạo đức, Minh là: “Tự giác nhi giới tự khi”.
Tự giác nghĩa là tự mình tỉnh ngộ, tự mình xét biết trong tâm. Còn giới tự khi, nghĩa là răn chỗ mình dối gạt lấy mình. Nói một cách khác mình đã biết lẽ phải rồi, thì đừng làm tuồng như không biết, mà cứ lầm lũi theo ý muốn riêng ích kỷ của mình. Nếu chỉ biết mà không chịu tin và làm theo, thì cũng chưa được gọi là Minh.
- Lý là nghĩa chi?
- Chữ Lý này không phải dùng trí thức, do chỗ ngũ quan nghe biết ở ngoài, mà suy diễn ra. Vì đó là một thứ lý hẹp hòi, rời rã, tùy sở học, tùy tập quán, tùy dục vọng mà ở mỗi người mỗi khác. Thậm chí, tuy ở một người, mà vì tâm thân biến cải, nên nay vầy mai khác, thay đổi không chừng.
Trái lại, Lý nói đây là lẽ phải tuyệt đối, thuộc về Tiên thiên, nghĩa là vốn có tự nhiên trong tâm của mỗi người, làm tiêu biểu cho trăm nết. Các việc ở ngoài phải căn cứ vào lý trong tâm, mà nhứt định phải chẳng, lành dữ. Trước hành vi thì nó phán đoán, sau hành vi thì nó phê bình.
Lý tuy nhứt định đồng cho mọi người, mà không phải ở cứng một chỗ. Sách Nho gọi là: “Định trung nhi vô định”. Bởi nó tùy mỗi trường hợp mà ứng dụng, rất là hoạt bát, viên dung. Hễ phóng ra thì nó tràn dẫy sáu hướng, còn thâu lại thì nó rút ẩn vào chỗ kín. Tỉ như lửa trong đá: Khi đập đá, bất kỳ chỗ nào, thì đều thấy văng lửa ra; mà chừng thôi đập, thì không biết nó ở đâu.
Đức Khổng Tử hỏi thầy Tử Cống rằng: “Trò Tử, ngươi tưởng Ta học nhiều mà nhớ hết đó chăng?”.
Trả lời: “Thưa phải”, rồi giựt mình hỏi lại Thầy rằng: “Như thế có lầm chăng?”. Trả lời: “Lầm ngay! Ta lấy một (lý) mà xét hiểu mọi sự, mọi vật”.
Thầy Châu Tử giải rõ ra rằng: “Thánh nhơn chi tâm, hồn nhiên nhứt lý, nhi phiếm ứng khúc đáng, dụng các bất đồng”, nghĩa là: Cái tâm của Thánh nhơn chỉ có một lý bao trùm hết, ứng khắp muôn vật, mà riêng đối với mỗi vật, đều theo lẽ phải cả, công dụng của nó vào mỗi trường hợp đều là khác nhau.
Trong cuốn Bố Cáo của đạo Minh Lý, Tiên Phật có giải nghĩa hai chữ Minh Lý trong bài thơ sau này:
Đạo là căn bổn khá tầm mò,
Minh mẫn lương tâm cạn xét dò.
Lý ấy tánh chơn, vô nhị thị,
Giải phân họa phước chẳng so đo.
Chữ vô nhị thị nghĩa là: Chỉ có một lẽ phải, chớ không hai, tức là tuyệt đối rồi. Chữ lý nói đây là tánh chơn tuyệt đối.
Thế thì lý đồng với chơn tánh, chơn tánh tức là lý. Cho nên cũng có tiếng kép là lý tánh (nature raisonnable) hay là tánh lý (raison naturelle, có người dịch là raison mystique).
- Hỏi: Lý là lẽ phải, là sự thiệt. Ấy là một vật bị người ta tưởng, người ta tìm. Còn tánh là người tưởng, người tìm cái đó. Hai bên: Một đàng là chủ động, một đàng là thọ động, khác xa như trời với vực, sao lại gọi là đồng với nhau?
- Trả lời: Lý nói đây là Đạo, là nguyên nhân thứ nhứt, chủ động về tinh thần. Cũng như tánh, lý không có sắc tướng. Nếu lý bị tưởng, bị tìm, đó là tự người làm cho nó hóa ra sắc tướng.
Vì cớ đó, kinh Phật nói: “Tánh tức là sắc, sắc tức là tánh. Khi ta mê, thì tánh hóa ra sắc. Lúc ta ngộ, thì sắc lại thành tánh”. Chữ sắc nghĩa là cảnh trạng, hình tướng.
Cũng vì cớ đó mà sách Du Già nói rằng: Khi tìm được lý tuyệt đối rồi, thì người chủ tưởng đồng nhứt (tuy hai mà một) với vật bị tưởng (le sujet pensant se confond avec l’objet pensé). Nhà triết học Bá-Cách-Sum (Bergson) cũng nói như thế.
MINH LÝ CĂN CỨ BÊN TRONG
Đức Lão Tử nói: “Tri nhơn giả trí, tự tri giả minh”, nghĩa là: Biết người ta là trí, còn tự biết mình là minh. Vậy chữ minh, trước hết, chủ về bên trong.
Tông chỉ của đạo Minh Lý là làm cho người người đặng thông hiểu và nhận thấy bổn tánh của mình, tức là câu văn Pháp: “Connais-toi toi-même” của ông Tô Cách Lạp (Socrate). Đó là mình tự thấy, tự biết mình, chớ không phải tìm thấy biết kẻ khác.
Nhưng muôn loài trong võ trụ đồng có một bổn thể là Đạo. Nếu mình tự biết mình rồi, thì suy ta ra người, cũng dễ biết được người vật. Biết được người vật, mới có thể giúp ích cho người vật.
Sách Trung Dung cũng đồng một ý đó, nên nói rằng: Trong thiên hạ, duy có người chí thành([2]) mới hay nhận thấy trọn cái tánh của mình, nhận thấy trọn cái tánh của mình mới là nhận thấy trọn cái tánh của người, nhận thấy trọn cái tánh của người mới là nhận thấy trọn cái tánh của mọi vật, nhận thấy trọn cái tánh của mọi vật mới có thể trợ giúp việc hóa dục của Trời Đất. Như vậy mới có thể xen vào hàng Trời Đất (đồng ngôi tam tài, quyền năng như Trời Đất).
Trợ giúp việc hóa dục của Trời Đất tức là giúp đỡ hết thảy chúng sanh. Giúp chẳng phải lo về mặt vật chất, cho ăn no mặc ấm mà thôi. Cốt yếu ở tại tinh thần. Nghĩa là: mình đã tự thấy sáng tỏ lý tánh của mình, thì cũng phải làm cho kẻ khác thấy lý tánh của họ sáng tỏ như mình vậy.
Lẽ tự nhiên, trước khi mình phải nhận thấy lý tánh của mình, rồi sau mới có thể giúp kẻ khác nhận thấy tánh như mình. Cũng như Nho nói: “Minh minh đức” rồi mới “tân dân”. Thích nói: “Tự giác” rồi mới “giác tha”, Đạo nói: “Độ thân” rồi mới “độ thế” vậy. Nhưng đó chẳng phải là hai việc làm riêng nhau.
Mình nhận thấy tánh là đầu việc. Rồi giúp kẻ khác nhận thấy tánh là cuối việc. Đó là hai giai đoạn của mọi việc làm, không phải rời rạc nhau, vì làm nên cho mình là sở dĩ làm nên cho người đó. Cái lý tánh đã sáng bên trong, thì tất nhiên phát dụng ra ngoài cũng thế. Tỉ như cái đèn đốt lên, chẳng phải chiếu cho một mình nó, mà cũng chiếu luôn khắp xung quanh nó nữa.
Đức Thái Thượng giáng bút giải hai chữ Minh Lý cho đạo Minh Lý thuộc về quẻ Trạch Lôi Tùy.
Đại ý, Ngài dạy rằng: Trong quẻ này, ở trên là cung Đoài, thuộc về hướng Tây, là tình, có nghĩa là người, thuộc về bên ngoài. Ở dưới là cung Chấn thuộc về hướng Đông, là tánh, có nghĩa là ta, thuộc về bên trong. Đoài nghĩa là ưa đẹp. Chấn nghĩa là huy động. Ta huy động ở dưới, ở trong để cầu kẻ ở ngoài, ở trên ưa đẹp. Ấy là người với ta có nghĩa tương ứng, nên gọi là Tùy. Minh Lý là lấy tánh cầu tình, qui về căn bổn.
Qui về căn bổn nghĩa là dẫn tình theo tánh. Ý nói: Lấy tánh sáng suốt của mình đã tự chứng mà chiều chuộng cho người vui lòng để dẫn về cội gốc là Đạo. Nếu chỉ lo cho mình sáng suốt mà quên kẻ khác, hoặc vùa theo kẻ khác mà quên con đường trung chánh, bỏ mất căn bổn của mình, thì chưa đủ gọi là Minh Lý. Cho nên Ngài tiếp nói rằng: “Nếu tánh tình mà hiệp lại rồi (tại căn bổn) thì thành Đạo”, nghĩa là đạt tới mục đích của đạo Minh Lý.
III. ĐẠO MINH LÝ ĐỐI VỚI
NHO, THÍCH, ĐẠO và TRIẾT HỌC
LÝ TÁNH VỐN CÓ MỘT VẬT
Đối với đạo Tam giáo, Minh Lý tuy có khác về chi tiết bởi tình thế, mà vốn đồng một tông chỉ, là làm cho mỗi người nhận thấy rõ cái Đạo trong thân người, tức là lý tánh. Lý tánh vốn có một.
Đức Khổng Tử kêu thầy Tăng mà nói: “Ngô Đạo nhứt dĩ quán chi”, nghĩa là: Đạo của Ta do một (lý) mà xét hiểu mọi sự, mọi vật. Thầy Tăng liền “dạ”.
Khi Đức Phu Tử đi rồi, các môn đệ khác mới hỏi lại thầy Tăng cho biết ý Ngài muốn nói chi. Thầy Tăng nghĩ khó nói về bổn thể của Đạo, bèn giải rằng: “Phu Tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hĩ”, nghĩa là: Đạo của Phu Tử là hết lòng suy ta ra người đó thôi. Kỳ thiệt lời này chỉ nói về công dụng của Đạo mà thôi.
Thầy Châu Tử giải nghĩa rất xác đáng rằng: “Phu Tử chi nhứt lý hồn nhiên, nhi phiếm ứng khúc đáng, thí tắc thiên địa chi chí thành vô tức, nhi vạn vật các đắc kỳ sở dã”, nghĩa là: Một lý của Phu Tử là bao trùm hết, ứng khắp muôn vật, mà đối riêng với từng vật, đều theo lẽ phải cả. Ví như Trời Đất chí thành không ngừng nghỉ, mà muôn vật đều được xử trí một cách ổn thỏa vậy.
Chí thành không ngừng nghỉ là bổn thể của Đạo. Muôn mối sai biệt (vạn thù) do đó mà gom về một gốc (nhứt bổn). Còn muôn vật đều đặng xử trí một cách ổn thỏa là công dụng của Đạo. Một gốc do đó mà tủa ra muôn mối sai biệt.
Thầy Tăng đã xét kỹ mỗi việc và ráng hết sức làm theo lời thầy dạy, nhưng chưa rõ được bổn thể vốn có một. Phu Tử biết ông đã thiệt tình cố sức làm lâu rồi, công phu sắp thành tựu, cho nên kêu ông mà nói ngay cho ông biết. Quả thầy Tăng hiểu được ý thầy, nên lên tiếng dạ liền.
MÀ CÓ NHIỀU TÊN KHÁC NHAU
Nhưng lý tánh phát diệu dụng vô cùng. Bởi lý tánh gộp đủ các lẽ để ứng đối với muôn sự việc, cho nên người ta tùy mỗi trường hợp mà đặt tên này tên nọ không ít.
Nho giáo gọi cái Một ấy, là Thái cực trong Kinh Dịch, Đạo tâm trong Kinh Thơ, Minh đức trong sách Đại Học, Thiên mạng chi tánh trong sách Trung Dung, Lương tri, Lương năng hay là Lương tâm trong sách Mạnh Tử, Nhân trong sách Luận Ngữ, Thiên lý trong sách Tánh Lý.
Đời sau, ông Vương Dương Minh là người thừa kế xứng đáng của thầy Mạnh Tử (cũng như thầy Mạnh Tử là người thừa kế trứ danh của Đức Khổng Tử) chỉ đề xướng Lương tri mà thôi, cho rằng Lương năng cũng ở luôn trong đó. Ông ấy nói: “Tri thị tâm chi bổn thể, tâm tự nhiên hội tri: kiến phụ mẫu tự nhiên tri hiếu, kiến hưynh đệ tự nhiên tri đễ, kiến nhụ tử nhập tỉnh tự nhiên tri trắc ẩn. Thử tiện thị lương tri, bất giả ngoại cầu”, nghĩa là: Sự biết là bổn thể của tâm, tâm tự nhiên hiểu biết: thấy cha tự nhiên biết hiếu, thấy anh tự nhiên biết đễ (hòa thuận, yêu mến) thấy con nít nhỏ lại gần miệng giếng tự nhiên biết thương xót. Đó là tánh lương tri tự nhiên hiểu biết như thế, chớ không cần tìm hỏi ở ngoài.
Đạo giáo gọi cái Một đó là Cốc thần, Chơn thường, Thiên lương, Chơn tánh, Kim đơn … lại nói rằng: “Thiên đắc nhứt dĩ thanh, địa đắc nhứt dĩ ninh, thần đắc nhứt dĩ linh”, nghĩa là: Trời đặng Một nên thanh tịnh, đất đặng Một nên an ninh, thần đặng Một nên hiển linh.
Phật giáo gọi cái Một đó là: Chơn như, Phật tánh, Nguơn minh diệu tâm, Như Lai tạng, Bạch tịnh thức, Pháp thân, Chơn ngã, Xá lợi, Kim cang … Kinh Phật có câu: “Tâm, Phật cập chúng sanh, thị tam vô sai biệt”, nghĩa là: Cái tâm, chư Phật và chúng sanh, cả ba đều là một thứ. Chơn như Phật tánh phát hiện ra đó, chớ không có chi khác.
Lại nói: “Giải nhứt tức thiên tùng, mê nhứt tức vạn hoặc”, nghĩa là: Hiểu rõ cái Một đó, thì hiểu luôn ngàn việc khác. Không hiểu rõ cái Một đó, thì lầm sai cả muôn việc khác.
Cũng nói về cái Một đó, Đức A Di Đà giáng bút dạy rằng:
“Trên Thiên đình, dưới Địa phủ, trong lòng người, mỗi chỗ đều có một cái bửu cảnh (kiếng báu) để làm phép trấn quái.
Trên Thiên đình, con quái nào, dẫu có thần thông quảng đại, biến hóa vô cùng, nếu hiện ra vật mà chẳng ai nhìn nổi, thì lấy bửu cảnh chiếu tự nhiên vật ấy lộ chơn hình, không giấu đặng.
Còn nơi Địa phủ cũng vậy. Nếu tên tội nhơn nào lợi khẩu, chối các điều quấy đã làm trên dương thế, thì đem kiếng ấy rọi, tất nhiên hiện đủ các điều quấy đã phạm, không còn chối đặng nữa.
Còn trong lòng người cũng vậy. Cái bửu cảnh ấy là lương tâm. Phàm mỗi việc, nên suy nghĩ. Nếu trái hẳn với lương tâm, thì điều ấy chẳng nên làm. Vì mình đã thấy rõ cái chơn hình của nó, há còn chịu làm bướng, cho phải bị lầm hay sao?... Cứ giữ theo đó, ngày sau Ta sẽ đến rước về Cực lạc”.
PHẢI ĐỊNH TƯỞNG VÀO MỘT LÝ MÀ THÔI
Thường tình, người ta đọc kinh sách, hễ thấy nhiều tên, thì tưởng có nhiều vật, thành ra phân vân, tán loạn trong lòng. Nếu phân vân, tán loạn thì không chủ nhứt. Thế thì đã cách xa với Đạo rồi.
Muốn cho người ta chủ nhứt, cuốn Qui Nguơn Trực Chỉ, bàn về lý Tam giáo hiệp nhứt, có ghi bài thơ này:
Sơn cư tịnh địa ám ta hu,
Hồng tử phân phân phản loạn chu.
Yếu thức Tiên thiên giai thử lý,
Cốc thần, Thái cực, tức Chơn như.
Nghĩa Nôm:
Trên non, nhập tịnh, ý thầm lo,
Hồng tía nhiều màu loạn sắc chu.
Phải biết Tiên thiên duy một lý,
Cốc thần, Thái cực, ấy Chơn như.
Chữ nhứt tức là định tưởng. Phàm định tưởng lâu ngày vào một lý nào rồi, thì lý đó càng thêm mạnh. Hễ nó đủ sức rồi, thì liền ứng ra tay chơn, thành ra cử động, mà có khi mình không tự biết. Sự thiệt hành của Đạo do nơi đây mà đặng dễ dàng.
Lại cũng nên biết: Theo phương Đông, cái Một nói trên là Lý tánh, Lương tri. Còn theo phương Tây, cái Một đó là bổn thể (noumène, chose en soi, essence secrète de la réalité…). Triết học gia và Tam giáo đạo chỉ luận về chữ Một đó, tức là Đạo.
Minh Lý không luận ra ngoài chữ Một đó, thì đâu phải là khác lạ chi! Có khác nhau chăng là tại chỗ hiểu biết có thấp cao, dụng công có sâu cạn mà thôi.
([1]) Kinh Đạo Đức có câu: “Đạo sanh nhứt, nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật”, nghĩa là: Đạo sanh ra một, một sanh ra hai, hai sanh ra ba, ba sanh ra muôn vật. Lời sách Ngộ Chơn Thiên dẫn trên chỉ giải rõ câu kinh Đạo Đức này mà thôi. Cũng như người phương Tây nói: Chánh thố định (thèse) Phản thố định (antithèse) Hiệp thố định (synthèse). Rồi hiệp trở lại thành chánh, tuần huờn không cùng.
([2])Người chí thành là bực Thánh, sáng suốt cùng bực. Còn từ bực Hiền sắp xuống, tuy có lòng thành, mà chưa đặng trọn vẹn. Cho nên phải “trí khúc”, nghĩa là: Phát triển một chút lòng thành đó cho tới mức hoàn toàn. Nói theo bây giờ, chí thành nghĩa là tập trung tinh thần (gom tinh thần về một chỗ).
Top